SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA NGÀY 01 – 02/6/2026
MÔN THI: NGỮ VĂN
Ngày thi: 01 tháng 6 năm 2026
Thời gian làm bài: 120 phút (Không tính thời gian phát đề)
Chủ đề: NHỮNG SẮC MÀU CẢM XÚC
I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5,0 điểm)
Chú robot tưởng mình là người
(Lược dẫn: Viện Công nghệ Số tạo ra chú robot tên là Biết Điều. Thay vì chỉ cần đọc bằng cửu chương theo yêu cầu, chú lại thắc mắc “tại sao phải đọc đi đọc lại những phép tính này”; thay vì chỉ cần mô phỏng cảm xúc buồn, chú lại… buồn thật – ngồi trầm tư hàng giờ, không thèm nói gì. Người ta xem đó là sản phẩm lỗi nên nhốt chú lại. Chú chạy trốn, rồi tình cờ gặp gỡ và sống cùng gia đình cô bé Julia. Viện Công nghệ Số tuyên bố: “Robot không được phép có cảm xúc thật. Phải thu hồi và xóa bộ nhớ ngay”. Phần văn bản sau kể về sự việc Biết Điều cùng gia đình Julia về quê thăm ông bà nội trước khi chú bị thu hồi).
Ăn xong, cả nhà ngồi dưới mái hiên uống trà và ăn mứt gừng, ngắm những đàn đom đóm bay là lành như thể ai đó đang rắc những vụn sao trên trời xuống vậy.
Biết Điều ngồi kế ông nội. Ánh đèn vàng treo gần mái hiên hắt nhẹ xuống mặt chiếc bàn gỗ cũ, tạo ra những quầng sáng tròn huyền ảo.
– Ông ơi… – Biết Điều lên tiếng, hơi ngập ngừng. – Cháu có thể nói chuyện thêm với ông… không ạ?
Ông nhấp một ngụm trà, gật đầu. Biết Điều nhìn ra khoảng sân đêm, giọng đều đều nhưng nhỏ hơn mọi khi:
– Nếu một cỗ máy được tạo ra để phục vụ, nhưng rồi bắt đầu có cảm nhận và suy nghĩ, thì nó còn là “máy” không ạ? Và nếu mình bị yêu cầu xóa đi tất cả những gì mình đã cảm nhận… thì liệu mình có còn là “mình” nữa không ạ?
Ông không trả lời ngay. Ông tháo kính, lấy khăn lau chậm rãi hai mắt kính. Rồi đặt tay lên vai Biết Điều.
– Cháu biết không, khi ông còn đi làm, người ta bảo: “Kí ức chỉ là dữ liệu”. Nhưng có một lần, ông gặp một cụ bà bị mất trí nhớ. Cụ không nhớ được tên con cháu, không nhớ được ngày tháng… nhưng cụ vẫn khóc khi nghe lại bài hát ru ngày xưa.
– Vì sao ạ?
– Vì cảm xúc nằm sâu hơn trí nhớ.
Biết Điều im lặng.
– Thế… nếu cháu bị xóa hết cả dữ liệu và cảm xúc, liệu cháu có thể “bắt đầu lại” không ạ?
– Có thể. Nhưng sẽ là một “cháu khác”.
– Thế còn… “cháu này” thì sao ạ?
Ông nhìn Biết Điều thật lâu, rồi nói:
– “Cháu này” là phiên bản biết tự hỏi mình là ai. Là phiên bản dám lo sợ, dám hi vọng, và dám buồn. Với ông, thế là đã đủ để cháu không chỉ là một cỗ máy.
Một tiếng “meo…” khẽ vang lên. Miu Miu từ đâu nhảy lên lòng Biết Điều, cuộn tròn lại như thể tấm đắc vô cùng với câu nói của ông.
Đêm về khuya. Gió vườn mát như khăn ướp lạnh. Mọi người đã vào ngủ. Chỉ còn Biết Điều và ông ngồi lại dưới ánh trăng mỏng như một đường kẻ bút màu.
Biết Điều mở sổ, viết vào đó một dòng: “Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi”.
(Trích Chú robot tưởng mình là người, Lê Anh Vinh, NXB Kim Đồng, 2026, tr. 63 – 65)
Câu 1 (3,0 điểm)
a. Xác định lời người kể chuyện và lời nhân vật trong trường hợp sau: Biết Điều mở sổ, viết vào đó một dòng: “Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi”. (0,5 điểm)
b. Phân tích vai trò của chi tiết Biết Điều hỏi ông nội: “Nếu một cỗ máy được tạo ra để phục vụ, nhưng rồi bắt đầu có cảm nhận và suy nghĩ, thì nó còn là ‘máy’ không ạ?” trong việc thể hiện đặc điểm của nhân vật Biết Điều. (0,75 điểm)
c. Xác định câu rút gọn trong đoạn trích sau, khôi phục lại thành phần bị rút gọn và cho biết tác dụng của việc sử dụng loại câu này: “Ông không trả lời ngay. Ông tháo kính, lấy khăn lau chậm rãi hai mắt kính. Rồi đặt tay lên vai Biết Điều”. (0,75 điểm)
d. Trò chuyện với bạn đọc về tác phẩm Chú robot tưởng mình là người, tác giả Lê Anh Vinh đặt câu hỏi: “Khi máy móc ngày càng giống con người, thì con người có đang dần sống như máy móc không?” (1) . Em hãy trả lời câu hỏi của tác giả Lê Anh Vinh. Trình bày trong khoảng 3 – 5 câu. (1,0 điểm)
Câu 2 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề hoặc một số nét đặc sắc nghệ thuật của văn bản Chú robot tưởng mình là người (Lê Anh Vinh).
II. Đọc hiểu văn bản nghị luận và viết bài văn nghị luận xã hội (5,0 điểm)
Thiếu cảm xúc, không chỉ viết văn, mà làm việc gì cũng khó khăn, hiệu quả thấp. Sự khô cứng, cằn cỗi của cảm xúc là một thực trạng có thật và xảy ra ở bất cứ ai, bất cứ lứa tuổi nào, trong bất cứ công việc gì. Nhiều người còn rất trẻ nhưng cảm xúc đã “cạn kiệt”.
Để luôn có cảm xúc và giữ cho cảm xúc tươi trẻ mãi, chúng ta phải yêu cuộc sống, nâng niu những giá trị sống, trân trọng mỗi vẻ đẹp và âm thanh mà cuộc sống đem lại. Bởi lẽ, cuộc sống phong phú quanh ta chính là “dưỡng chất” để khơi nguồn, dưỡng nuôi cảm xúc. Chẳng hạn, nhìn một chiếc lá rụng, người thường xuyên quan sát, suy ngẫm, liên tưởng,… sẽ xao xuyến, rung động mà thấy đó là hình ảnh về sự sống, về vũ trụ, từ đó liên tưởng tới một ngôi sao vụt tắt để lại biết bao bí ẩn, hay một cuộc đời đã làm xong phận sự nay thanh thản trở về với cát bụi… Nghe một chiếc lá rụng, nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa đã thao thức, bâng khuâng mà viết nên câu thơ “Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”.
(Dựa theo Tạ Duy Anh, Khơi nguồn cảm xúc…, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số 10/2019, tr.17)
Câu 1 (1,0 điểm)
Hãy phân tích tác dụng của lí lẽ và bằng chứng đối với luận điểm trong đoạn thứ hai của văn bản trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
Em hãy chọn một trong hai yêu cầu sau để thực hiện:
1. Viết bài văn nghị luận về vấn đề thiếu cảm xúc, khô cứng và cằn cỗi cảm xúc của một số bạn trẻ hiện nay; từ đó, đề xuất giải pháp để thế giới cảm xúc của người trẻ thêm phong phú những sắc màu tươi đẹp.
2. Viết bài văn nghị luận với nhan đề: “Thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương”.
– HẾT –
(1) Hướng tới Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn 2026: Để được là chính mình như “Chú robot tưởng mình là người”, Công Bắc (thực hiện), Báo Điện tử Thể thao và Văn hóa – TTXVN, 19/5/2026.
* HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
Phần I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
a. Xác định lời người kể chuyện và lời nhân vật (0,5 điểm)
– Lời người kể chuyện: “Biết Điều mở sổ, viết vào đó một dòng:”
– Lời nhân vật (Biết Điều): “Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi”.
b. Phân tích vai trò của chi tiết Biết Điều hỏi ông nội (0,75 điểm)
– Chi tiết Biết Điều hỏi: “Nếu một cỗ máy được tạo ra để phục vụ, nhưng rồi bắt đầu có cảm nhận và suy nghĩ, thì nó còn là ‘máy’ không ạ?” đã làm nổi bật đặc điểm của nhân vật Biết Điều.
- Câu hỏi cho thấy Biết Điều không còn là một cỗ máy hoạt động theo lập trình đơn thuần mà đã biết suy nghĩ, trăn trở, tự nhận thức về bản thân và ý nghĩa sự tồn tại của mình.
- Qua đó, nhân vật hiện lên với những cảm xúc và nhận thức rất gần với con người, đồng thời thể hiện khát vọng được thấu hiểu, được công nhận giá trị riêng của bản thân.
- Chi tiết này góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm: chính cảm xúc, suy nghĩ và ý thức về bản thân là những yếu tố làm nên giá trị của một cá thể, vượt lên trên ranh giới giữa máy móc và con người.
c. Xác định câu rút gọn, khôi phục thành phần bị rút gọn và nêu tác dụng (0,75 điểm)
– Câu rút gọn: “Rồi đặt tay lên vai Biết Điều”
– Khôi phục thành phần bị rút gọn: “Rồi ông đặt tay lên vai Biết Điều”
– Tác dụng:
- Tránh lặp lại chủ ngữ “ông”.
- Làm cho câu văn ngắn gọn, tự nhiên.
- Giúp mạch kể chuyện liền mạch, tập trung làm nổi bật cử chỉ ân cần, yêu thương của ông đối với Biết Điều.
d. Trả lời câu hỏi của tác giả “Khi máy móc ngày càng giống con người, thì con người có đang dần sống như máy móc không?” (3-5 câu) (1,0 điểm)
– Em đồng ý rằng khi máy móc ngày càng giống con người thì một bộ phận con người cũng đang dần sống như máy móc.
– Lí giải: Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người bị cuốn vào công việc, mạng xã hội và các thiết bị công nghệ nên sống theo thói quen lặp lại, thiếu cảm xúc và ít quan tâm đến những người xung quanh. Họ có thể giao tiếp nhiều nhưng lại ít lắng nghe, ít sẻ chia và ngày càng trở nên thờ ơ trước niềm vui, nỗi buồn của người khác. Tuy nhiên, con người khác máy móc ở khả năng yêu thương, đồng cảm và rung động trước cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng cảm xúc, sống chân thành và nuôi dưỡng những giá trị nhân văn để không trở thành “cỗ máy” giữa đời sống hiện đại.
Câu 2 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề hoặc một số nét đặc sắc nghệ thuật của văn bản Chú robot tưởng mình là người (Lê Anh Vinh).
* Gợi ý viết đoạn văn phân tích nội dung chủ đề văn bản “Chú robot tưởng mình là người”:
1. Giới thiệu tác phẩm, tác giả: Văn bản “Chú robot tưởng mình là người” là một sáng tác giàu ý nghĩa của tác giả Lê Anh Vinh.
2. Nêu khái quát nội dung và nghệ thuật văn bản: Bằng giọng kể nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, kết hợp với tình huống truyện độc đáo và giàu tính triết lí, thông qua cuộc trò chuyện giữa Biết Điều và ông nội, tác giả đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa máy móc và con người.
3. Phân tích nội dung, chủ đề:
a. Nhân vật Biết Điều:
- Biết Điều là một robot có khả năng cảm nhận và suy nghĩ như con người: Biết Điều không hoạt động đơn thuần theo chương trình được lập sẵn mà luôn đặt ra những câu hỏi về bản thân và thế giới xung quanh. Chú trăn trở về sự tồn tại của mình qua câu hỏi: “Nếu một cỗ máy được tạo ra để phục vụ, nhưng rồi bắt đầu có cảm nhận và suy nghĩ, thì nó còn là ‘máy’ không ạ?” Chú biết lo lắng, biết băn khoăn trước nguy cơ bị xóa kí ức và cảm xúc. Điều đó cho thấy Biết Điều đã có đời sống nội tâm phong phú, khả năng tự nhận thức và suy tư mang tính triết lí → Biết Điều không còn là một cỗ máy vô tri mà đã mang những phẩm chất rất gần với con người.
- Biết Điều có khát vọng được là chính mình và được công nhận giá trị riêng: Chú lo sợ sẽ mất đi những cảm xúc, suy nghĩ của bản thân khi bị xóa dữ liệu. Liên tục đặt câu hỏi: “Liệu mình có còn là mình nữa không?”, “Thế còn cháu này thì sao ạ?” Chi tiết cuối truyện: “Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi” cho thấy Biết Điều đã ý thức sâu sắc về bản thân. Chú mong muốn được sống đúng với những gì mình cảm nhận, được thấu hiểu và được công nhận như một cá thể độc lập
→ Nhân vật Biết Điều tượng trưng cho khát vọng được sống là chính mình, đồng thời khẳng định cảm xúc và ý thức bản thân là những giá trị làm nên bản sắc của mỗi cá nhân. Qua nhân vật này, tác giả gửi gắm thông điệp: chính cảm xúc, sự đồng cảm, khả năng yêu thương và ý thức về bản thân mới là điều làm nên giá trị đích thực của một con người.
b. Nhân vật người ông:
- Ông là người có nhiều kinh nghiệm sống, từng trải qua nhiều biến cố nên luôn điềm tĩnh, sâu sắc, nhân hậu, giàu tình yêu thương và sự cảm thông. Ông luôn lắng nghe Biết Điều bằng thái độ kiên nhẫn, tôn trọng, không xem Biết Điều đơn thuần là một cỗ máy, ông nhìn thấy ở chú những phẩm chất của một con người. Thông qua cuộc trò chuyện với Biết Điều, ông giúp nhân vật nhận ra rằng cảm xúc, hi vọng, nỗi buồn và sự tự nhận thức chính là những yếu tố làm nên giá trị của một cá thể.
→ Nhân vật người ông là cầu nối giúp tác giả gửi gắm thông điệp: cảm xúc và tình yêu thương là những giá trị cốt lõi tạo nên tính người.
c. Chi tiết nổi bậc:
- Câu hỏi của Biết Điều: “Nếu một cỗ máy được tạo ra để phục vụ, nhưng rồi bắt đầu có cảm nhận và suy nghĩ, thì nó còn là ‘máy’ không ạ?” cho thấy chú không còn là một robot hoạt động theo chương trình được lập sẵn mà đã biết suy tư, tự nhận thức về bản thân và ý nghĩa sự tồn tại của mình.
- Đến cuối truyện, dòng nhật kí: “Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi” đánh dấu bước trưởng thành trong nhận thức của nhân vật. Chi tiết này cho thấy Biết Điều đã ý thức được giá trị của cảm xúc, kí ức và bản sắc cá nhân. Qua đó, tác giả khẳng định rằng chính cảm xúc, khả năng suy nghĩ và ý thức về bản thân mới là ranh giới quan trọng giữa máy móc và con người.
3. Phân tích đặc sắc nghệ thuật: Không những sâu sắc ở nội dung, văn bản còn hấp dẫn người đọc bởi cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa. Nhân vật được khắc họa sinh động, có chiều sâu tâm lí. Cách kể chuyện nhẹ nhàng, gần gũi nhưng giàu chất triết lí. Ngôn ngữ đối thoại giản dị nhưng chứa đựng nhiều suy ngẫm sâu sắc. Tất cả góp phần thể hiện thành công thông điệp: cảm xúc, tình yêu thương và khả năng tự nhận thức chính là những giá trị làm nên vẻ đẹp của con người.
4. Suy nghĩ sau khi đọc văn bản: Khép lại văn bản, tôi nhận ra rằng cảm xúc, tình yêu thương và sự đồng cảm là những giá trị làm nên vẻ đẹp của con người. Dù công nghệ có phát triển đến đâu, con người vẫn cần biết lắng nghe cảm xúc của bản thân, sống chân thành và yêu thương những người xung quanh. Văn bản giúp tôi hiểu rằng chỉ khi biết rung động trước cuộc sống và trân trọng những giá trị nhân văn, con người mới thực sự sống một cuộc đời ý nghĩa.
Phần II. Đọc hiểu văn bản nghị luận và viết bài văn nghị luận xã hội (5,0 điểm)
Câu 1 (1,0 điểm) Hãy phân tích tác dụng của lí lẽ và bằng chứng đối với luận điểm trong đoạn thứ hai của văn bản trên.
– Luận điểm: Muốn có cảm xúc và giữ cho cảm xúc luôn tươi trẻ, con người cần yêu cuộc sống, trân trọng những vẻ đẹp xung quanh.
– Lí lẽ: “Cuộc sống phong phú quanh ta chính là ‘dưỡng chất’ để khơi nguồn, dưỡng nuôi cảm xúc”
Lí lẽ này giải thích nguyên nhân vì sao con người cần mở lòng với cuộc sống để nuôi dưỡng cảm xúc.
– Bằng chứng:
- Bằng chứng 1: Chẳng hạn, nhìn một chiếc lá rụng, người thường xuyên quan sát, suy ngẫm, liên tưởng,… sẽ xao xuyến, rung động mà thấy đó là hình ảnh về sự sống, về vũ trụ, từ đó liên tưởng tới một ngôi sao vụt tắt để lại biết bao bí ẩn, hay một cuộc đời đã làm xong phận sự nay thanh thản trở về với cát bụi…
- Bằng chứng 2: Nghe một chiếc lá rụng, nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa đã thao thức, bâng khuâng mà viết nên câu thơ “Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”.
– Phân tích tác dụng của lí lẽ và bằng chứng đối với luận điểm:
- Trong đoạn văn, lí lẽ: “Cuộc sống phong phú quanh ta chính là ‘dưỡng chất’ để khơi nguồn, dưỡng nuôi cảm xúc” đã giải thích nguyên nhân, làm sáng tỏ luận điểm: muốn giữ cho cảm xúc luôn tươi trẻ, con người cần yêu cuộc sống và trân trọng những vẻ đẹp quanh mình.
- Bằng chứng về việc một người biết quan sát chiếc lá rụng để liên tưởng đến sự sống, vũ trụ, cuộc đời và dẫn chứng nhà thơ Trần Đăng Khoa viết câu thơ “Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” từ cảm nhận tinh tế trước chiếc lá rơi đã minh họa cụ thể, sinh động cho lí lẽ trên.
- Nhờ sự kết hợp giữa lí lẽ và bằng chứng, luận điểm trở nên rõ ràng, cụ thể, giàu sức thuyết phục, đồng thời giúp người đọc nhận ra rằng cảm xúc chỉ có thể được nuôi dưỡng khi con người biết quan sát, rung động và yêu cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm)
Em hãy chọn một trong hai yêu cầu sau để thực hiện:
1. Viết bài văn nghị luận về vấn đề thiếu cảm xúc, khô cứng và cằn cỗi cảm xúc của một số bạn trẻ hiện nay; từ đó, đề xuất giải pháp để thế giới cảm xúc của người trẻ thêm phong phú những sắc màu tươi đẹp.
(* Gợi ý: Kiểu bài: Nghị luận về một vấn đề cần giải quyết trong đời sống)
2. Viết bài văn nghị luận với nhan đề: “Thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương”.
(* Gợi ý: Kiểu bài: Bày tỏ suy nghĩ/qua điểm về một ý kiến/nhận định)











