PHẦN I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(1) Tôi yêu sách từ nhỏ, mẹ tôi kể hồi mang thai tôi, mẹ đã thai giáo tôi nghe những vần thơ mộc mạc, chân tình, những lời ru ngọt ngào và những câu chuyện cổ tích trong những cuốn sách mẹ mượn của ngoại. Chắc vậy mà hiện tại tôi rất thích đọc sách.
[…]
(2) Tôi đã đọc hàng trăm đầu sách và thấy rằng sách có một sức hấp dẫn, quý giá và có một ma lực không cưỡng nổi. Trong thế giới của sách, tôi thấy mình bé nhỏ vô cùng. Ở đó, tôi thấy tâm hồn mình được khoan dung hơn, hiểu biết hơn và được sống cùng ước mơ. Tôi mơ về những miền đất xa, nơi ấy tôi được gặp gỡ và được giúp đỡ nhiều người. Miền đất ấy tôi học và trở thành cô nhà báo viết nên những câu chuyện về tình người và tình đời. Và cứ như thế, tôi đọc hết cuốn này đến cuốn khác. Tôi xếp chúng rất ngay ngắn. Lật trang sách cũng nhẹ nhàng vì sợ sách “đau”. Để rồi khi dấu chân in hằn nhiều miền đất, nhiều cuộc hành trình, chín chắn và trưởng thành tôi vẫn cứ sống với niềm đam mê yêu đọc sách ấy. Ước mơ trở thành cô nhà báo cũng đã trở thành hiện thực. Trân quý vô cùng.
(3) Tuy bây giờ cùng với sự phát triển của công nghệ 4.0, các tác phẩm được chuyển thể thành sách điện tử, sách nói… Nhưng không hiểu sao, tôi rất thích đọc sách in, báo giấy. Và thích luôn cả mùi giấy in thoang thoảng ở trên từng trang giấy. Tôi thích luôn cả tiếng sột soạt khi lật sang trang mới. Và thích hơn mỗi dịp cuối tuần ngồi bên hiên nhà gió thổi nhè nhẹ cùng ly trà nhài rồi thả hồn vào từng trang sách. Cuộc sống như nhẹ nhàng và an nhiên biết bao nhiêu. Tôi thích câu nói của Nhà văn H. Godefroy: “Những quyển sách làm say mê ta đến tận xương tủy, chúng nói chuyện với ta, cho ta lời khuyên và liên kết với ta bởi một tình thân mật, sống động và nhịp nhàng”. Tôi yêu sách tới nỗi nâng niu như một bông hoa đẹp. Trau dồi kiến thức và nuôi dưỡng tâm hồn bằng đọc sách là một điều quý giá.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo văn bản, trong thế giới của sách, nhân vật tôi nhận thấy điều gì?
Câu 2. Tìm câu rút gọn trong đoạn (2) của văn bản trên.
Câu 3. Việc tác giả trích dẫn câu nói của Nhà văn H. Godefroy có tác dụng gì?
Câu 4. Em có đồng tình với ý kiến: “Trau dồi kiến thức và nuôi dưỡng tâm hồn bằng đọc sách là một điều quý giá” không? Vì sao?
PHẦN II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Hiện nay, văn hóa nghe nhìn đang dần lấn át văn hóa đọc. Trước thực trạng đó, em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày giải pháp để rèn thói quen đọc sách.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật văn bản sau.
CỔ TÍCH
(Lê Văn Nguyên)
Bà cụ kẹo ốm một trận. Bà sống được nhờ mấy lọ kẹo và chum nước lã. Hồi sức, bà bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố. Xưa kia mẹ góa con côi. Bà xệp dưới gốc cột đèn góc phố ven đô, bày bán những lọ kẹo bột, kẹo vừng… mà nuôi đủ ba mẹ con.
Giữa trưa hè nắng đổ lửa. Vai đeo bị cói. Bà cụ ràng rạc chạy nắng. Đến gốc đa vệ đê, bà bất chợt gặp một chị cứng tuổi ngồi nghỉ với gánh cỏ đầy. Chị ới bà lại, bẻ đôi nắm cơm mời ăn. Hai con người cô đơn tìm thấy nhau trong cảnh ngộ chung. Chị rước bà theo.
Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Từ rày có mẹ, có con. Tối xuống, bên ngọn đèn hạt đỗ, nho nhỏ câu nói, tiếng cười. Chị cỏ bò – tên người phố đặt cho – cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò. Thêm bà cụ, bớt bát cơm mà vui, cái vui ấm áp mới ghé thăm lều chị. Chị quý bà như mẹ, bà thương chị như con.
Ông trời chơi khăm kẻ khó. Cái nghề cỏ rả bọt bèo ai thèm đếm xỉa mà cũng yểu. Mấy anh chủ nhỏ đua đòi, hùn vốn tậu cái công nông. Ngồi lái cơ giới bành bạch, phì phèo điếu thuốc oách hơn xe bò kéo. Mất nghề, chị cỏ bò đành lân la, van vỉ việc vặt hàng phố.
Mùa đông rét mướt đang về. Rét mướt ác với kẻ nghèo. Từng cơn, từng cơn gió bấc ào ào lùa qua vách cót mỏng. Những hạt sương sa đồm độp gõ buốt xuống mái giấy dầu. Trong đêm tê cóng, hai tấm thân gầy ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi hôi cho nhau dưới tấm chăn chiên lỗ chỗ. Biết mình chẳng qua khỏi đêm nay, bà lão lào phào vào tai cô gái muộn mằn:
– Nhỡ mẹ có đi, con nhớ thay sống áo cho mẹ nhé!
Đoạn, mếu máo:
– Con ơi, mẹ thương con lắm! Cầu trời con sống sung sướng…
Chị cỏ bò thổn thức. Chị chỉ biết cuống quýt hai bàn tay xoa xoa, nắn nắn tấm thân già nguội giá.
Sớm mai, bà cụ đã mất. Chị con nuôi nấu lên nồi lá thơm, lau thi thể mẹ, tìm trong bị một bộ quần áo lành lặn. Ở cái chéo áo lụa màu gụ, có một nút gút hình củ ấu. Chị gỡ nút buộc. Tuột ra, lăn lóc, năm sáu khâu nhẫn, vàng chóe.
Chị cỏ bò sụp xuống, tức tưởi: “…Mẹ ơi…!”
(Trích 108 truyện hay cực ngắn, nhiều tác giả, NXB Phụ nữ, 2003, tr107-109)
*Chú thích: Lê Văn Nguyên sinh năm 1942 tại tỉnh hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng). Những tác phẩm của ông thể hiện sự cảm nhận sâu sắc về cuộc sống, về tình yêu thương và những giá trị nhân văn qua lối viết giản dị, gần gũi. Truyện ngắn “ Cổ tích” mang những triết lí sâu xa về cuộc sống, hướng người đọc cảm nhận và trân trọng những điều bình dị mà quý giá trong cuộc sống.
———-HẾT———
Hướng dẫn chấm:
Câu 1 (1,0 điểm)
– Trong thế giới của sách, nhân vật tôi thấy:
- mình bé nhỏ vô cùng
- tâm hồn mình được khoan dung hơn
- hiểu biết hơn và được sống cùng ước mơ.
→ Diễn đạt: Nhân vật “tôi” thấy mình bé nhỏ, đồng thời tâm hồn được mở rộng, hiểu biết hơn và được nuôi dưỡng những ước mơ đẹp.
Câu 2 (1,0 điểm)
Câu rút gọn trong đoạn (2): “Trân quý vô cùng”
* Giải thích:
– Lược bỏ chủ ngữ (“tôi thấy/đó là…”)
– Nhấn mạnh cảm xúc.
Câu 3 (1,0 điểm) Việc tác giả trích dẫn câu nói của Nhà văn H. Godefroy có tác dụng:
– Tạo sức thuyết phục đối với người đọc, người nghe (dẫn chứng từ người nổi tiếng).
– Nhấn mạnh lợi ích, ý nghĩa mà sách đem lại cho con người: sách vừa là người bạn, người thầy thân tình; vừa cung cấp tri thức; bồi dưỡng, nâng đỡ và xoa dịu tâm hồn → Làm sâu sắc ý nghĩa của việc đọc sách.
– Thể hiện sự đồng tình, say mê của tác giả với sách
– Giúp người đọc nhận thức đúng đắn về vai trò của sách và nâng cao ý thức đọc sách.
Câu 4 1,0 điểm)
– Bày tỏ quan điểm: thí sinh có thể đồng tình/không đồng tình/đồng tình một phần
– Lí giải:
+ Nếu đồng tình: nguồn tri thức của nhân loại từ xa xưa đến ngày nay được ghi lại, gìn giữ, lưu truyền trong sách. Đọc sách, ngẫm kĩ những điều trong sách, con người sẽ có cơ hội trau dồi, phát triển tri thức; đồng thời được bồi dưỡng những tư tưởng tình cảm đúng đắn, tốt đẹp. Vì thế, đọc sách là điều quý giá nhất.
+ Nếu không đồng tình: trong cuộc sống, đọc sách không phải là con đường duy nhất đưa ta đến chân trời tri thức, giúp ta nuôi dưỡng tâm hồn. Nếu đọc sách không có sự chọn lọc, không có mục đích đúng đắn thì dẫn đến nhận thức, hành động, việc làm lệch lạc, sai trái.
+ Nếu đồng tình một phần: kết hợp hai cách lí giải trên.
Phần II:
Câu 1 (2,0 điểm)
* Yêu cầu chung:
– Về kĩ năng:
+ Sử dụng phương thức biểu đạt nghị luận kết hợp phương thức tự sự, miêu tả và biểu cảm.
+ Lý lẽ xác đáng, dẫn chứng tiêu biểu, có sức thuyết phục; lập luận chặt chẽ, mạch lạc.
+ Trình bày khoa học, chữ viết sạch đẹp, không sai chính tả.
– Về kiến thức: trình bày suy nghĩ về vấn đề nghị luận sự cần thiết của việc đọc sách đối với đời sống con người.
* Yêu cầu cụ thể.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
– Đảm bảo hình thức của đoạn văn nghị luận: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Đảm bảo dung lượng theo yêu cầu.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Làm thế nào để rèn luyện thói quen đọc sách cho học sinh
c. Đề xuất được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề.
– Hiện nay văn hóa nghe nhìn rất hấp dẫn, đáp ứng mọi nhu cầu tìm hiểu thông tin của các bạn trẻ nên văn hóa đọc đang dần bị lấn át.
– Giải pháp để rèn luyện thói quen đọc sách:
+ Tự giác đọc sách mỗi ngày, mỗi ngày chỉ 1 trang.
+ Động viên, khen ngợi khi trẻ tự giác đọc sách và biết vận dụng kiến thức đọc được trong sách.
+ Tham gia các câu lạc bộ sách của trường và của địa phương.
+ Gia đình cần tạo môi trường thuận lợi
+ Người lớn: cha mẹ, thầy cô…làm tấm gương cho trẻ
+ Hạn chế sử dụng các thiết bị điện tử.
+ Nhà trường xây dựng thư viện thân thiện và tổ chức các hoạt động đọc sách thường xuyên…
(HS nêu được dẫn chứng thuyết phục)
d. Khẳng định vai trò quan trọng của việc đọc sách đối với hs
đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận phân tích nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Cổ tích” (Lê Văn Nguyên).
a. Đảm bảo bố cục của bài văn nghị luận: Có đầy đủ Mở bài, Thân bài, Kết bài. Mở bài giới thiệu vấn đề, Thân bài triển khai vấn đề, Kết bài khái quát vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn “Cổ tích ” (Lê Văn Nguyên).
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và bằng chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
1. Giới thiệu vấn đề: Giới thiệu về tác giả Lê Văn Nguyên. , truyện ngắn“ Cổ tích ” và đặc sắc của truyện.
* Triển khai vấn đề: HS có thể triển khai phân tích truyện theo các cách khác nhau nhưng tập trung làm sáng tỏ được:
2. Phân tích nội dung chủ đề của truyện:
– Tóm tắt nội dung: Câu chuyện kể về nhân vật chị cỏ bò đã chăm sóc cưu mang bà cụ kẹo như mẹ đẻ của mình. Khi bà cụ mất đã để lại cho chị năm, sáu khâu nhẫn vàng và lời ước nguyện cầu mong cho chị sống sung sướng.
– Nêu nội dung chủ đề: Truyện ca ngợi tình người, sự đồng cảm, sẻ chia đầy ấm áp và yêu thương,
* Phân tích nội dung chủ đề:
+ Tình yêu thương trước hết được thể hiện qua cách đối xử của chị cỏ bò. Mặc dù chị có hoàn cảnh khó khăn, quá lứa nhỡ thì, sống một thân một mình trong căn lều dột nát, chuyên làm nghề cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò nên người ta gọi là chị cỏ bò nhưng khi gặp bà cụ ăn xin: “ chị ới bà lại, bẻ đôi nắm cơm mời ăn rồi chị rước bà theo về sống cùng mình trong túp lều dột nát….Những đêm tê cóng, hai tấm thân gày ôm nhau, ủ ấm hơi thở hôi cho nhau…” Dần dần ít việc chị đành “lân la van vỉ việc vặt hàng phố” để kiếm kế sinh nhai. Hoàn cảnh kém may mắn nhưng chị luôn toả sáng những phẩm chất của người nông dân chất phác chịu thương chịu khó, giàu lòng nhân ái.
→ Nhận xét: Cuộc đời chị cỏ bò giống với cuộc đời những nhân vật chính diện trong câu chuyện xưa với quan niệm “Ở hiền gặp lành”. Chị là biểu tượng cho tấm lòng thơm thảo, nhân hậu, quí trọng tình người.
– Bên cạnh nhân vật chị cỏ bò ta còn bắt gặp nhân vật bà cụ kẹo cũng có hoàn cảnh éo le, bất hạnh không kém: “Xưa kia vốn cảnh mẹ goá con côi, nhờ bán những lọ kẹo bột, vừng…mà nuôi đủ ba mẹ con”. Về già, sau trận ốm, bà bần thần, mất trí, đi lang thang và được chị cỏ bò rước về chăm sóc, nhận làm mẹ nuôi.Tuy không cùng huyết thống nhưng gắn bó như con, lời dặn cuối cùng mà bà dành cho chị cỏ bò thật xúc động “Con ơi, mẹ thương con lắm…, cầu trời cho con sung sướng…”Bà đã âm thầm để lại toàn bộ số vàng cho chị, tuy không nhiều nhưng là tài sản chắt chiu cả đời.
→ Nhận xét: Nhân vật bà cụ kẹo là biểu tượng cho hình ảnh đẹp về người phụ nữ VN: Yêu thương con bằng tất cả tấm lòng và đức hi sinh cao đẹp. Những nhân vật này đều góp phần toả sáng chủ đề truyện.
* Phân tích đặc sắc nghệ thuật:
– Cốt truyện, tình huống truyện đơn giản, sinh động bởi cách kết thúc có hậu góp phần làm nổi bật chủ đề và những suy nghĩ, tình cảm của nhân vật.
– Ngôi kể thứ ba tạo tính khách quan.. Ngôn từ giản dị, có những lời thoại tự nhiên: “Con ơi, mẹ thương con lắm! Cầu trời con sống sung sướng…”.Giọng điệu trần thuật nhẹ nhàng pha chút trầm buồn giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với nhân vật.
– Tác giả đã lựa chọn các chi tiết tiêu biểu: “bà cụ bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố, vai đeo bị cói, ràng rạc chạy nắng…”. Những chi tiết này làm nổi bật được dáng vẻ và hoàn cảnh đáng thương của một cụ già neo đơn, không nhà cửa, không chỗ dựa, không con cái. Hoặc chi tiết tiếng gọi “Mẹ ơi” chị cỏ bò thốt ra là sự xúc động về tình thân sâu sắc. Chị đã coi bà cụ như mẹ đẻ mình. Nhân vật được khắc họa chủ yếu qua suy nghĩ, hành động, lời nói tạo nên sự xúc động, thấm thía.
3. Kết thúc vấn đề: Khẳng định lại đặc sắc về nội dung, nghệ thuật; giá trị của đoạn trích và bài học rút ra.
d. Chính tả: Đảm bảo quy tắc về chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu, liên kết đoạn.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề; cách diễn đạt mới mẻ, lôi cuốn; lời văn sinh động, giàu cảm xúc.










