Phân tích Buổi tiễn đưa (Trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm)

Buổi tiễn đưa (Trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm)

Đoạn trích:

Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,
Bước đi một bước dây dây lại dừng.

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.

Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử,
Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
Hà Lương chia rẽ đường này,
Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi.

Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng ?

Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay trong bóng phất phơ
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ gối chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.

Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?

(Những khúc ngâm chọn lọc, tập 1, Lương Văn Đang – Nguyễn Thạch Giang – Nguyễn Lộc giới thiệu, biên khảo, chú giải, Nhà xuát bản Giáo dục, 1994, trang 39 – 42)

Giới thiệu nội dung và nghệ thuật đoạn trích:

Đoạn thơ trên trích từ Chinh phụ ngâm – tác phẩm nổi tiếng của Đặng Trần Côn, được diễn Nôm theo thể song thất lục bát, bản dịch thường được gắn với Đoàn Thị Điểm. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII, viết về tâm trạng của người chinh phụ có chồng ra trận trong bối cảnh chiến tranh phong kiến liên miên.

Đoạn thơ nằm ở phần đầu tác phẩm, miêu tả cảnh tiễn biệt và nỗi lòng của người chinh phụ khi người chồng lên đường chinh chiến. Từ khoảnh khắc “giáp mặt rồi phút bỗng chia tay”, người chinh phụ tiễn chồng qua những chặng đường ngày càng xa. Người đi và người ở dù cùng hướng về nhau nhưng cuối cùng lại rơi vào cảnh “cùng trông lại mà cùng chẳng thấy”. Qua đó, đoạn thơ diễn tả sâu sắc nỗi lưu luyến, nhớ thương, cô đơn và đau đớn của người chinh phụ trước cảnh vợ chồng phải chia lìa, đồng thời thể hiện khát vọng về một cuộc sống gia đình đoàn tụ, hạnh phúc và lời tố cáo chiến tranh đã gây nên những bi kịch cho con người.

Về nghệ thuật, đoạn thơ nổi bật trước hết ở thể song thất lục bát, một thể thơ giàu khả năng diễn tả những cung bậc cảm xúc buồn thương, da diết. Nhịp điệu khi dồn dập, khi kéo dài, tạo nên âm hưởng vừa réo rắt vừa não nùng, phù hợp với tâm trạng của người chinh phụ. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng thành công bút pháp tả cảnh ngụ tình, lấy hình ảnh thiên nhiên như “mây biếc”, “núi xanh”, “khói Tiêu Tương”, “ngàn dâu xanh ngắt” để diễn tả nỗi lòng. Hệ thống điển tích, điển cố và địa danh cổ như Hà Lương, doanh Liễu, Tràng Dương, Hàm Dương, Tiêu Tương vừa tạo sắc thái cổ kính, trang trọng, vừa mở rộng không gian chia biệt đến vô tận. Đặc biệt, nghệ thuật đối xứng, điệp từ, câu hỏi tu từ được sử dụng tinh tế, nổi bật trong câu kết “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”, đã đẩy nỗi sầu chia cách lên đến đỉnh điểm.

Có thể nói, bằng thể song thất lục bát giàu nhạc tính, ngôn ngữ tinh luyện, hình ảnh giàu sức gợi, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình và sử dụng điển tích điển cố đặc sắc, đoạn thơ đã khắc họa thành công bi kịch chia lìa của đôi vợ chồng trong chiến tranh. Qua tiếng lòng của người chinh phụ, tác phẩm không chỉ thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với người phụ nữ mà còn cất lên tiếng nói đề cao tình yêu, hạnh phúc lứa đôi và khát vọng hòa bình.

Dàn bài phân tích:

I. Mở bài:

– Đoạn trích “Buổi tiễn đưa” thuộc tác phẩm kiệt tác Chinh phụ ngâm (nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, bản dịch diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm) là bức tranh tâm trạng đầy bi kịch, tái hiện một cách sâu sắc sự mâu thuẫn giữa nghĩa vụ phong kiến và hạnh phúc cá nhân, đồng thời là tiếng nói tố cáo chiến tranh phi nghĩa.

– Qua thể thơ song thất lục bát giàu nhạc điệu, đoạn thơ đã khắc họa hành trình tâm lý từ lúc bắt đầu cuộc tiễn biệt, sự quyến luyến lúc chia ly cho đến nỗi sầu muộn mênh mông khi người chinh phu đã khuất bóng.

II. Thân bài:

1. Phân tích ý nghĩa nội dung chủ đề

Bối cảnh không gian và hào khí buổi lên đường

Mở đầu đoạn trích, tác giả đặt người đọc vào một bầu không khí chiến trận dồn dập, đan xen giữa nghĩa vụ quốc gia và tình cảm gia đình:

“Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.”

Người chiến binh mang trên mình trọng trách “giong ruổi”, trang bị “cung tiễn” sẵn sàng ra trận nhưng tâm tư lại “bận thê noa” (vợ con). m thanh của cuộc chiến vang vọng từ xa với “Bóng cờ tiếng trống xa xa”, kéo theo một thực tại tàn nhẫn: “Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng”. Chữ “sầu” và “oán” xuất hiện ngay lập tức phản ánh tính chất phi nghĩa của cuộc chiến, reo rắc nỗi oán hận từ biên ải xa xôi đến tận chốn phòng khuê.

Ngay sau đó, hình ảnh người chinh phu hiện lên với vẻ đẹp lộng lẫy, oai phong theo lý tưởng phong kiến:

“Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung…”

Người chinh phu vốn là bậc trí thức (“xếp bút nghiên”) mang chí nam nhi nợ tang bồng. Khát vọng lập công danh hiển hách được thể hiện qua hàng loạt điển tích, điển cố mang tầm vóc vũ trụ như: “dặm nghìn da ngựa”, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng (“Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”). Nhịp thơ dồn dập, mạnh mẽ qua câu thơ “Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu” gợi tả tư thế dứt khoát, hăm hở bước vào cuộc chiến của người anh hùng.

Tâm trạng quyến luyến, nghẹn ngào buổi phân ly

– Ngay khi rời khỏi không gian đầy hào khí ấy, nhịp thơ đột ngột chùng xuống, nhường chỗ cho cảnh sắc thiên nhiên đượm buồn và nỗi lòng trĩu nặng của người chinh phụ:

“Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.”

– Cảnh vật đầu cầu (“nước trong”, “cỏ non”) vốn tươi đẹp nhưng qua đôi mắt của người ở lại bỗng hóa thành tác nhân nhân lên nỗi sầu khổ. Nỗi buồn được định tính thành chiều dài “dằng dặc”. Dù đi bằng đường bộ hay đường thủy thì mọi phương tiện lúc này đều bất lực trước việc ngăn cản sự chia ly. Nghệ thuật đối lập khắc họa rõ nét sự bất lực:

  • “Nước có chảy mà phiền chẳng rửa” (nước không thể cuốn trôi nỗi muộn phiền).
  • “Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây” (hương cỏ không làm dịu đi vết thương lòng).

– Hành động của đôi vợ chồng trẻ trong giây phút cuối cùng được tác giả diễn tả chân thực, xúc động bằng các từ láy giàu giá trị biểu cảm: “Nhủ rồi nhủ lại cầm tay / Bước đi một bước dây dây lại dừng”. Sự ngập ngừng, dùng dằng thể hiện khát vọng níu kéo hạnh phúc trong vô vọng.

Sự đối lập giữa khát vọng nam nhi và nỗi lòng khuê phụ

– Trong men rượu tiễn, hai thế giới nội tâm hoàn toàn trái ngược của “chàng” và “thiếp” lộ rõ:

“Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San.”

  • Chàng: Hướng về tiền tuyến xa xôi (“tìm cõi Thiên San”, “săn Lâu Lan”, “tới Man Khê”), hiện lên oai phong với “Áo chàng đỏ tựa ráng pha / Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”. Bản lĩnh nam nhi gắn liền với chiến trận lẫm liệt.
  • Thiếp: Chỉ biết gửi gắm tấm lòng chung thủy sắt son bám đuổi theo chồng như “bóng trăng theo dõi”.

– Sự tương phản gay gắt giữa sắc áo đỏ rực và sắc ngựa trắng muốt vừa tôn vinh vẻ đẹp của người ra trận, vừa như dự báo về một hành trình đầy bão táp, hiểm nguy sắp tới.

Nỗi sầu chia ly bao trùm không gian và thời gian

– Phút bỗng chia tay ập đến, hình ảnh người chồng cứ thế mờ dần trong bụi đường chiến trận, để lại người chinh phụ trơ trọi:

“Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ gối chăn.”

– Phép đối xứng hoàn chỉnh “Chàng đi” >< “Thiếp về”, “cõi xa mưa gió” >< “buồng cũ gối chăn” làm nổi bật sự cách biệt hai thế giới. Một người đối mặt với gió sương, hiểm nguy nơi sa trường; một người trở về đối diện với căn phòng trống trải, cô đơn tột cùng.

– Tác giả sử dụng các địa danh mang tính ước lệ như Hàm Kinh, Tiêu Tương, Hàm Dương để cực tả khoảng cách địa lý đang ngút ngàn hoang hoải:

“Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.”

– Đỉnh cao của đoạn trích nằm ở cái kết đầy ám ảnh với hình ảnh “ngàn dâu”:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?”

– Điệp từ “xanh xanh”, “ngàn dâu” rồi chuyển thành “xanh ngắt” thể hiện sự tăng tiến của nỗi sầu. Màu xanh ngắt của ngàn dâu không còn là màu của sự sống, mà là màu của sự chia ly, che khuất tầm mắt, nhuộm sầu lên cả không gian. Câu hỏi tu từ cuối đoạn “ai sầu hơn ai?” vang lên đầy nhức nhối, không có lời đáp, kết tinh thành khối sầu bi kịch của con người trong thời đại chiến tranh.

2. Đặc sắc nghệ thuật

  • Thể thơ song thất lục bát: Đạt đến đỉnh cao mẫu mực, nhịp điệu giàu chất nhạc, trầm bổng như tiếng khóc than, rất phù hợp để diễn tả tâm trạng u uất.
  • Biện pháp tu từ: Sử dụng nhuần nhuyễn phép đối, điệp ngữ bắc cầu (ngàn dâu -> ngàn dâu xanh ngắt), câu hỏi tu từ tạo độ ngân vang cho cảm xúc.
  • Bút pháp tả cảnh ngụ tình: Thiên nhiên không vô tri mà hoàn toàn đồng điệu, nhuốm màu tâm trạng cô đơn, đoạn trường của con người.
  • Phép đối lập, tương phản: Phép đối vừa tạo nên vẻ đẹp cân xứng, nhịp nhàng của câu thơ cổ điển, vừa khắc sâu khoảng cách địa lí và khoảng cách tâm trạng giữa người đi và người ở.
  • Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố mang tính ước lệ, tượng trưng: tạo nên vẻ đẹp cổ kính, trang trọng, hàm súc, đồng thời giúp tác giả cô đọng nhiều ý nghĩa trong một hình ảnh, làm cho không gian và cảm xúc của đoạn thơ mang tầm vóc rộng lớn hơn.

III. Kết bài:

– Bằng thể song thất lục bát, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, sử dụng điển tích, điển cố, phép đối, điệp ngữ và hình ảnh thiên nhiên giàu sức gợi, tác giả đã diễn tả thành công bi kịch chia lìa của người chinh phụ. Tác phẩm không chỉ cảm thông cho số phận của người phụ nữ có chồng ra trận, mà còn gián tiếp đưa ra tiếng nói phản chiến mạnh mẽ, tố cáo giai cấp thống trị đẩy những đôi vợ chồng trẻ vào cảnh sinh ly tử biệt vì những cuộc chiến giành giật quyền lực ích kỷ.

– Qua đó, đoạn thơ thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc, khẳng định khát vọng muôn đời của con người: được yêu thương, được đoàn tụ và được sống trong hạnh phúc hòa bình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang