Hướng dẫn viết đoạn văn phân tích tác phẩm văn học (thơ/truyện) – Ôn thi vào lớp 10

Hướng dẫn viết đoạn văn phân tích tác phẩm văn học (thơ/truyện) – Ôn thi vào lớp 10

I. HƯỚNG DẪN VIẾT ĐOẠN VĂN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM THƠ

1. Các bước viết đoạn văn phân tích tác phẩm thơ

Bước 1: Phân tích đề (2 phút – gạch chân vào đề)

  • Gạch chân vào đề:

Nội dung: Làm rõ hình ảnh, nội dung chủ đề,…. của khổ thơ/bài thơ.

+ Xác đinh vấn đề nghị luận: đề bài yêu cầu làm rõ điều gì? (thường nằm sau chữ “về…”, “cảm nhận của em về…”, “phân tích về…”)

+ Xác định phạm vi phân tích: Thường là 1 hoặc 2 khổ thơ nào, đoạn trích nào, nhân vật nào…

– Hình thức: Viết đoạn văn viết liền các phần mở bài-thân bài-kết bài liền nhau không được xuống dòng (Có thể yêu cầu hình thức đoạn văn diễn dich, quy nạp hoặc tổng phân hợp… khoảng 12 hoặc 15 câu. Tuy nhiên trong giới hạn của dạng đề sẽ chỉ đi hướng dẫn về cách phân tích chung đối với một đoạn văn phân tích tác phẩm thơ.)

* Ví dụ 1: Viết đoạn văn phân tích khổ thơ sau:

“Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng”.

(Bài thơ yêu đời – Nguyễn Hữu Bào)

  • Vấn đề nghị luận: nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ.
  • Phạm vi phân tích: đoạn thơ.
  • Hình thức: đoạn văn nghị luận.

* Ví dụ 2: Viết đoạn văn ngắn nêu cảm nhân về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài sau:

“Xuân bảy lăm. Tết Tân Biên
Mai rừng một nhánh nở bên giếng rừng
Em đang múc nước bỗng dưng
Nhìn mai vàng nở rưng rưng nhớ nhà
Giờ này mẹ ở quê xa
Cành mai mẹ cắm chắc là vàng thêm”.

(Mai vàng-Tế Hanh)

  • Vấn đề nghị luận: Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình.
  • Phạm vi phân tích: bài thơ.
  • Hình thức: đoạn văn ngắn.

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý (5 phút – Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề)

* Tìm ý (3 phút – Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề)

– Tìm hiểu nhan đề và bố cục chia khổ thơ để nhận biết đề tài và nội dung chính.

– Chia tách khổ thơ thành các phần và xác định nội dung chính của từng phần.

– Tìm những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của khổ thơ (và gạch chân (thông thường các tác phẩm bài thơ hay sử dụng ẩn dụ, điệp thanh, điệp vần, nhân hoá, so sánh… cần chú ý vào các biện pháp này)

– Tìm hiểu thông tin cơ bản về tác giả, về hoàn cảnh sáng tác để hiểu thêm về bài thơ (Thông thường có thể bỏ qua do giới hạn dung lượng đoạn văn yêu cầu ngắn gọn.)

Ví dụ: Viết đoạn văn phân tích khổ thơ:

Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ.

(Bài thơ yêu đời – Nguyễn Hữu Bào)

– Thể thơ: Lục bát

– Xác định bố cục và nội dung từng phần (Đây là căn cứ khi phân tích ta bám sát vào làm)

  • Hai câu đầu: Khung cảnh đêm mữa
  • Bốn câu tiếp: Bức tranh thiên nhiên khi trời nắng

– Xác định nhanh đặc sắc về nghệ thuật, nội dung:

+ Nội dung: Niềm vui trước khung cảnh thiên nhiên sau trời mưa

+ Nghệ thuật:

  • Từ ngữ, hình ảnh giản dị nhưng giàu sức biểu cảm, kết hợp kể, tả một cách sâu sắc.
  • Ngôn ngữ gần gũi, mộc mạc lời ăn tiếng nói hàng ngày.
  • Nhân hoá, liệt kê, ẩn dụ, từ láy

* Lập dàn ý (5 phút – Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề)

2. Dàn ý cơ bản của dạng đề phân tích đoạn thơ

PhầnNội dung
Mở đoạn:– Giới thiệu tác giả, tác phẩm; khái quát nội dung chủ đề và nghệ thuật.
Thân đoạn:Phân tích nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật; làm rõ tư tưởng, thông điệp bài thơ:

– Luận điểm 1: Phân tích ý nghĩa nội dung chủ đề

– Luận điểm 2: Phân tích đặc sắc nghệ thuật

– Luận điểm 2: Đánh giá giá trị của chủ đề và nghệ thuật (Không trùng với kết bài)

Kết đoạn:– Khẳng định lại vấn đề + Cảm nhận của bản thân.

Bước 3: Viết đoạn (35 đến 40 phút – trình bày sạch sẽ, cẩn thận)

– Khi viết bài, cần bám sát dàn ý đã lập; sử dụng đa dạng các hình thức trích dẫn; kết hợp phân tích với nhận xét, đánh giá

– Sử dụng từ ngữ chính xác, chọn lọc; diễn đạt sáng rõ, thể hiện được cảm xúc của người viết

– Chú ý sự khác nhau về yêu cầu, mục đích của kiểu bài ghi lại cảm xúc sau khi đọc thơ và phân tích tác phẩm thơ

Bước 4: Đọc lại bài (3 phút – nếu còn thời gian)

– Chú ý đọc lại những câu mở bài, thân bài, kết kết xem đã viết đúng, rõ ràng chưa.

– Kiểm tra lỗi chính tả và diễn đạt.

– Nếu có lỗi cần sửa thì gạch đi sửa lại thật sạch sẽ.

3. Cách viết từng đoạn trong bài văn phân tích

a. Cách viết phần mở đoạn

* Mở đoạn trực tiếp: giới thiệu tác giả, tác phẩm + khái quát nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật + Trích đoạn thơ yêu cầu phân tích (nếu có).

→ Nhận xét: Cách viết này nhanh, đảm bảo đúng, đủ, nhưng không ấn tượng.

* Mở đoạn gián tiếp: Dẫn dắt từ đề tài/phong cách sáng tác/nhận định/cảm nhận cá nhân… + Nêu vấn đề và phạm vi phân tích

→ Nhận xét: Cách viết này gây chú ý, hấp dẫn người đọc những rất dễ xa rời vấn đề.

Dưới đây là một số cách dẫn dắt nhanh:

Cách 1: Những năm tháng trôi đi và lịch sử không ngừng biến động nhưng tác phẩm … của nhà văn/nhà thơ .. mãi là bông hoa không tuổi tựa mùa xuân không ngày tháng sống trọn vẹn nơi trái tim độc giả hôm nay mai sau, đặc biệt ở đó xúc động nhất chính là những câu thơ ở khổ thơ…

Cách 2: Văn học như một thiên thần mang sứ mệnh che chở và bảo vệ con người. Trong tác phẩm …….., nhà văn/nhà thơ đã để ngòi bút của mình thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả đó qua hình ảnh thơ vô cùng độc đáo trong khổ thơ: (Nếu phân tích cả bài thì bỏ chữ trong khổ thơ đi)

Ví dụ: Văn học như một thiên thần mang sứ mệnh che chở và bảo vệ con người. Trong tác phẩm “Bài thơ yêu đời” của nhà thơ Nguyễn Hữu Bào đã để ngòi bút của mình thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả đó qua những hình ảnh thơ vô cùng độc đáo.

b. Cách viết phần thân đoạn

* Yêu cầu: Thân đoạn gồm nhiều câu văn, mỗi câu làm rõ một nội dung nhất định.

– Thân đoạn phải có hệ thống luận điểm rõ ràng, đầy đủ 2 luận điểm chính:

  • Luận điểm 1: Phân tích ý nghĩa nội dung chủ đề (Bám sát vào bố cục, mỗi nội dung được chia trong bố cục ta căn cứ là một luận cứ để phân tích)
  • Luận điển 2: Phân tích một vài đặc sắc nghệ thuật.
  • Luận điểm 3: Đánh giá (1 đoạn văn)

– Luận điểm quan trọng nhất là luận điểm phân tích

* Cách viết:

Cách phân tích ý nghĩa nội dung chủ đề: Phân tích nội dung chính, phân tích từng hình ảnh, chi tiết trong bài thơ (Nên phân tích từng câu, từng hình ảnh một theo thứ tự xuất hiện trong bài thơ để không bị xót ý)

Cách phân tích đặc sắc nghệ thuật: Xác định những đặc sắc nghệ thuật của dẫn chứng đã phân tích, nêu tác dụng của từng biện pháp nghệ thuật xuất hiện trong bài (nên đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho những đặc sắc nghệ thuật đó), đánh giá về ý nghĩa nhan đề, kết cấu và bố cục, thể thơ, hình ảnh thơ, nhịp điệu, các biện pháp tu từ, giọng điệu… 

Ví dụ: Khi viết đoạn văn phân tích hai khổ thơ trong bài “bài ca yêu đời” của Nguyễn Hữu Bào:

Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ.

Xác định nội dung chính: Miêu tả về khung cảnh thiên nhiên sau đêm mưa thiên nhiên bỗng trở nên rạng rỡ và đầy sức sống mãnh liệt. Qua đó gửi gắm triết lí về đời người trong cuộc sống.

Nghệ thuật: Ý nghĩa nhan đề, kết cấu và bố cục, biện pháp tu từ: nhân hoá, ẩn dụ, liệt kê, thể thơ lục bát…

+ Khi đọc những tiếng thơ nhẹ nhàng, bồng bềnh trong lời hát của Nguyễn Hữu Bào ta không chỉ thấy rõ đủ đầy tâm tư, tình cảm của thi sĩ hơn thế còn lâng lâng cảm xúc của mình trong dư vị thật ngọt ngào:

Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ.

+ Cánh cửa thi ca khẽ mở ra là khi ta bước vào thế giới bao la, say đắm vô cùng, hân hoan vô tận theo bước chân tác giả ngao du khắp nơi từ khoảnh khắc “đêm qua” đầy tăm tối lại buồn bã trong tiếng “mưa” rơi vang lên “thật to” xuyên qua không gian chạm vào tận lòng ta ào ào, dữ dội, đáng sợ biết bao. Có lẽ, với trái tim nhạy cảm trước sự sống, ánh mắt xanh non biêng biếc của đứa trẻ say mình cùng vạn vật, nhà thơ đã rung động thật tha thiết trước màn đêm huyền bí, trong khung cảnh “tối mò”, dò dẫn, cúi mình thật lâu tìm ánh sáng trên con đường quê mịt mờ, thăm thẳm, bao la bủa vây mà đến ngay cả “trăng sao” cũng “ướt hết” một hột sáng mong manh không còn, chẳng thể soi đường ta đi. Nhịp thơ thật đặc biệt, kết hợp cùng biện pháp nhân hoá trong thể thơ lục bát khiến bạn đọc chìm đắm trong âm hưởng da diết, thân thương, vô cùng đáng yêu, gần gũi “trăng” và “sao” ngấm giọt mưa long lanh, lạnh gía che mờ vầng sáng để người chẳng thấy rõ đường khiến cảnh tan tác dần mà trở lên ảm đạm nơi màn mưa. Để rồi, ta chỉ còn thấy vang lên giữa không gian của bài thơ âm điệu trách cứ nhẹ nhàng, man mát sau tiếng thở dài “buồn ghê” cũng khẽ thấm vào lòng ta cảm giác lành lạnh, cô đơn của bầu trời sau cơn mưa rào như trút nước ấy. Đến đây, chẳng phải chỉ nhờ những ngôn từ nhỏ bé, cất lên giữa không gian của làng quê yên bình ta bỗng chốc bước chân vào tâm hồn thi nhân mà cảm nhận rõ tình cảm tha thiết, mãnh liệt trước vạn vật hay sao? Thế nhưng, cái hay của câu thơ không chỉ ở nét tâm trạng có phần nũng nịu, hờn giận vô cùng đáng yêu mà sâu trong đó còn khiến người đọc rung rinh, bồng bềnh theo từng tiếng cười trong trẻo đầy lạc quan nơi bức tranh bình minh tươi mới khi “sáng nay” vạn vật thức dậy đã thấy “trời” tất tả, hối hả mà “vội”“trở về” cùng nhân gian làm khung cảnh thiên nhiên khoác lên màu áo rực rỡ, lung linh. Từ đó, kéo theo vạn vật thay sắc đổi màu cùng nhau hoan ca đắm say, ngọt ngào qua biện pháp liệt kê vào khoảnh khắc “muôn tia nắng” nhảy múa cười tươi e lệ nép “trên đê trong làng”, rộn rã “Bầy chim” giật mình bỗng cất tiếng “mừng rỡ hót vang”, để rồi kéo theo hoa lá cũng rộn ràng nghiêng mình khoa sắc mời gọi “bướm vàng nhởn nhơ”. Qua đó, nhà thơ muốn gửi gắm triết lí nhân sinh về đời người, ẩn dụ muộn thiên nhiên mà nói quy luật của cuộc đời hết mưa là nắng, hết khổ là vui…

* Cách viết phần đánh giá chung:

– Nội dung: Khẳng định nội dung chính mà đề bài yêu cầu làm rõ (vấn đề nghị luận).

– Nghệ thuật: Khẳng định những đặc sắc nghệ thuật của dẫn chứng đã phân tích (nên đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho những đặc sắc nghệ thuật đó). Đánh giá về thể thơ, hình ảnh thơ, nhịp điệu, các biện pháp tu từ, giọng điệu…

Ví dụ: Đoạn đánh giá khi phân tích khổ thơ trong “Bài thơ yêu đời”:

Đoạn thơ với chút tâm tình và niềm vui nơi bức tranh thiên nhiên được tác giả khắc hoạ với những đường nét tinh tế sống động giờ đây tràn ngập hạnh phúc qua biện pháp nhân hoá, liệt kê kết hợp với cảm nhận tinh tế trong việc huy động tất cả các giác quan cùng tụ hội, gom góp mở ra cánh cửa thiên nhiên vô cùng tươi trong, rạng rỡ như chính lòng người đang hân hoan, mê say vậy.

c. Cách viết phần kết đoạn

* Yêu cầu: Kết đoạn = Tổng kết lại vấn đề nghị luận và phạm vi phân tích + Liên hệ, mở rộng → Là phần sáng tạo linh hoạt.

Cách 1:  Đọc những trang thơ ấy,  ta lại càng  thêm trân quý tình cảm/tấm lòng/tài năng của một cây bút xuất sắc viết về + tên đề tài, góp phần làm nên diện  mạo nền văn học Việt Nam phong phú, độc đáo, ấn tượng.

Cách 2: Mỗi áng thơ là một dòng thác chảy nhẹ nhàng, len lỏi vào từng ngách nhỏ trong tim ta ấm nồng những giá trị nhân văn cao đẹp của đời, nếu đúng như thế, thì tác phấm A của nhà thơ B sẽ mãi là một suối nguồn thiêng liêng, cao lớn được lưu lại mãi mãi trong lòng người đọc bao thế hệ và sống cùng dòng văn học Việt Nam muôn đời mà ta không thể nào quên trong hành trình cuộc đời chính mình hôm nay, mai sau…

Ví dụ: Mỗi áng thơ là một dòng thác chảy nhẹ nhàng, len lỏi vào từng ngách nhỏ trong tim ta ấm nồng những giá trị nhân văn cao đẹp của đời, nếu đúng như thế, thì tác phẩm “Bài thơ yêu đời” của nhà thơ Nguyễn Hữu Bào sẽ mãi là một suối nguồn thiêng liêng, cao lớn được lưu lại mãi mãi trong lòng người đọc bao thế hệ và sống cùng dòng văn học Việt Nam muôn đời mà ta không thể nào quên trong hành trình cuộc đời chính mình hôm nay, mai sau…

d. Một số cách nối câu hay và độc đáo

* Ví dụ: Khi phân tích khổ đầu trong tác phẩm “Bài thơ yêu đời”

Cách dẫnVí dụ
Cách 1: Cứ thế con chữ dẫn hiện lên theo gánh suy tư của tác giả về…( Hình ảnh/ tâm trạng/ ý thơ/…)Cứ thế con chữ dẫn hiện lên theo gánh suy tư của tác giả về hình ảnh thiên nhiên khi ta bước vào thế giới bao la, say đắm vô cùng, hân hoan vô tận theo bước chân tác giả ngao du khắp nơi từ khoảnh khắc “đêm qua” đầy tăm tối lại buồn bã trong tiếng “mưa” rơi vang lên “thật to” xuyên qua không gian chạm vào tận lòng ta ào ào, dữ dội, đáng sợ biết bao.
Cách 2: Gieo từng bước chân vào trang viết của mỗi thi nhân, ta lại thấy thấm đượm một câu chuyện gần gũi mà sâu sắc, phải chăng đây là lí do mà tác giả đã….(Hình ảnh/ tâm trạng/ ý thơ/…)Gieo từng bước chân vào trang viết của mỗi thi nhân, ta lại thấy thấm đượm một câu chuyện gần gũi mà sâu sắc, phải chăng đây là lí do mà tác giả đã vẽ ra khung cảnh màn đêm huyền bí, trong khung cảnh “tối mò”, dò dẫn, cúi mình thật lâu tìm ánh sáng trên con đường quê mịt mờ, thăm thẳm, bao la bủa vây mà đến ngay cả “trăng sao” cũng “ướt hết” một hột sáng mong manh không còn, chẳng thể soi đường ta đi.
Cách 3: Trang nghệ thuật kia lại tiếp tục được nối dài khi nhà văn khắc hoạ về…Trang nghệ thuật kia lại tiếp tục được nối dài khi nhà văn khắc hoạ về không gian của bài thơ âm điệu trách cứ nhẹ nhàng, man mát sau tiếng thở dài “buồn ghê” cũng khẽ thấm vào lòng ta cảm giác lành lạnh, cô đơn của bầu trời sau cơn mưa rào như trút nước ấy
Cách 4: Nối tiếp dòng cảm xúc ấy ta thấy rằng…Nối tiếp dòng cảm xúc ấy ta thấy rằng nhà thơ đã sử dụng biện pháp ẩn dụ để biến hạt mưa trên bầu trời, thành “giọt sầu” buồn vương lại, níu chặt vào tâm hồn con người chẳng rời xa. Để rồi, khi nỗi buồn đã “thật đầy”, chật đến nỗi nhà thơ chẳng thể lưu lại, ôm lấy mà ngân nga trong cô đơn, một mình, chính vì vậy ông để nó tràn ra ngoài qua những vần thơ một cách thật tự nhiên trong bóng dáng “lặng lẽ”, trầm ngâm khắc hạo lại “cơn mưa”

* Bài tập minh họa

Đề bài: Viết đoạn văn nêu cảm nhân của em về khổ thơ sau:

Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ.

(Bài thơ yêu đời – Nguyễn Hữu Bào)

Dàn ý chi tiết: Cảm nhận về khổ thơ trong Bài thơ yêu đời của Nguyễn Hữu Bào

1. Mở đoạn:

– Giới thiệu tác giả Nguyễn Hữu BàoBài thơ yêu đời.

– Khái quát nội dung đoạn thơ: Bằng những hình ảnh gần gũi của thiên nhiên sau cơn mưa đêm, tác giả đã vẽ nên bức tranh buổi sáng tươi đẹp, tràn đầy sức sống, thể hiện niềm yêu đời, lạc quan trước cuộc sống.

2. Thân đoạn:

Luận điểm 1:  Ý nghĩa nội dung chủ đề: Bức tranh thiên nhiên sau cơn mưa đêm

+ Bức tranh đêm mưa buồn bã, ảm đạm:

  • Thời gian: “Đêm qua” gợi không gian tĩnh lặng, tối tăm.
  • Hình ảnh:
    • “Mưa thật là to” cho thấy cơn mưa lớn kéo dài.
    • “Trăng sao ướt hết” là hình ảnh nhân hóa độc đáo, khiến thiên nhiên như cũng bị cơn mưa phủ kín.
    • “Tối mò buồn ghê” diễn tả cảm giác âm u, lạnh lẽo, vắng vẻ của cảnh vật.
  • Qua đó, tác giả khắc họa một bức tranh thiên nhiên đầy khó khăn, thử thách trước khi ngày mới xuất hiện.

+ Bức tranh buổi sáng tươi sáng, tràn đầy sức sống:

  • Hình ảnh:
    • “Sáng nay trời vội trở về” sử dụng biện pháp nhân hóa, làm cho bầu trời như một người bạn thân quen đang nhanh chóng trở lại sau cơn mưa.
    • Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng” gợi ánh nắng chan hòa, ấm áp khắp không gian làng quê.
    • “Vườn hoa trước ngõ”, “Bướm vàng nhởn nhơ” → Những hình ảnh ấy cho thấy thiên nhiên đã hồi sinh mạnh mẽ, ngập tràn niềm vui và sức sống.
  • Âm thanh:
    • “Bầy chim mừng rỡ hót vang” tạo nên âm thanh vui tươi, rộn rã của ngày mới.

– Luận điểm 2: Đặc sắc nghệ thuật

+ Ý nghĩa chủ đề: Đoạn thơ thể hiện vẻ đẹp tươi sáng của thiên nhiên sau cơn mưa. Gợi quy luật của cuộc sống: sau những khó khăn, thử thách sẽ là những điều tốt đẹp. Thể hiện niềm tin yêu cuộc sống, tinh thần lạc quan và thái độ sống tích cực của tác giả.

+ Ý nghĩa nhan đề Bài thơ yêu đời: Nhan đề ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Thể hiện cảm hứng chủ đạo của bài thơ: tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và niềm tin vào những điều tốt đẹp.

+ Kết cấu, bố cục chặt chẽ: Hai phần đối lập: Cảnh đêm mưa tối tăm, buồn bã >< Cảnh buổi sáng tươi đẹp, rạng rỡ → Sự chuyển đổi từ bóng tối sang ánh sáng làm nổi bật sức sống mãnh liệt của thiên nhiên.

+ Hình ảnh thơ gần gũi, giàu sức gợi: Trăng sao, mưa, nắng, chim, hoa, bướm… → Những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam tạo cảm giác thân thuộc, bình dị.

+ Biện pháp tu từ đặc sắc: Biện pháp nhân hóa: “Trăng sao ướt hết”, “Trời vội trở về”, “Bầy chim mừng rỡ” → Giúp cảnh vật trở nên sinh động, có hồn và giàu cảm xúc.

+ Ngôn ngữ, giọng điệu, âm hưởng: Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, gần gũi với trẻ em. Giọng thơ nhẹ nhàng, vui tươi. Âm hưởng hồn nhiên, lạc quan, giàu sức truyền cảm.

3. Kết đoạn:

– Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật: Đoạn thơ đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên tươi đẹp sau cơn mưa và gửi gắm niềm yêu đời, yêu cuộc sống. Hình ảnh thơ sinh động, nhân hóa đặc sắc, ngôn ngữ trong sáng, giàu cảm xúc.

– Liên hệ: Đoạn thơ nhắc nhở mỗi người luôn giữ tinh thần lạc quan, tin tưởng rằng sau những khó khăn của cuộc sống sẽ luôn có ánh sáng và niềm vui chờ đón phía trước.

Bài viết tham khảo:

Đoạn văn 1:

Bài thơ yêu đời là một sáng tác đặc sắc của Nguyễn Hữu Bào. Bằng giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống cùng tinh thần lạc quan, tin tưởng vào những điều tốt đẹp. Ngay từ nhan đề, tác giả đã khái quát cảm hứng chủ đạo của bài thơ, đồng thời gửi gắm thông điệp ý nghĩa về thái độ sống tích cực trước mọi hoàn cảnh. Mở đầu đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên trong đêm mưa đầy ảm đạm: “Đêm qua mưa thật là to / Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê”. Thời gian “đêm qua” gợi nên không gian tĩnh lặng, tối tăm; còn hình ảnh “mưa thật là to” cho thấy cơn mưa lớn bao trùm khắp cảnh vật. Đặc biệt, biện pháp nhân hóa trong câu thơ “trăng sao ướt hết” khiến thiên nhiên như mang tâm trạng của con người, góp phần làm nổi bật vẻ buồn bã, lạnh lẽo của đêm mưa. Thế nhưng, bức tranh ấy nhanh chóng chuyển sang gam màu tươi sáng khi bình minh xuất hiện: “Sáng nay trời vội trở về / Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng”. Hình ảnh nhân hóa “trời vội trở về” gợi cảm giác hối hả, như thiên nhiên đang mang ánh sáng và niềm vui đến với cuộc sống. Ánh nắng rực rỡ lan tỏa khắp làng quê, đánh thức vạn vật sau cơn mưa. Không chỉ có ánh sáng, bức tranh thiên nhiên còn tràn ngập âm thanh và màu sắc với hình ảnh “bầy chim mừng rỡ hót vang”, “vườn hoa trước ngõ”, “bướm vàng nhởn nhơ”. Tất cả đã tạo nên một khung cảnh thanh bình, tươi vui và đầy sức sống. Qua sự đối lập giữa đêm mưa tối tăm và buổi sáng rạng rỡ, tác giả gửi gắm một thông điệp sâu sắc: sau những khó khăn, thử thách luôn là những điều tốt đẹp và niềm hy vọng đang chờ đón con người. Thành công của đoạn thơ còn được tạo nên bởi kết cấu chặt chẽ, hình ảnh gần gũi, biện pháp nhân hóa sinh động cùng ngôn ngữ trong sáng, giàu sức gợi. Đọc đoạn thơ, em không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương mà còn thêm yêu cuộc sống, biết sống lạc quan và tin tưởng vào tương lai.

Đoạn văn 2:

Văn học như một thiên thần mang sứ mệnh che chở và bảo vệ con người. Trong tác phẩm “Bài thơ yêu đời” của nhà thơ Nguyễn Hữu Bào đã để ngòi bút của mình thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả đó qua những hình ảnh thơ vô cùng độc đáo qua những câu thơ:

Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ.

Thơ là cuộc đời của trái tim, trái tim lại hội tụ cả nguồn sống nuôi con người trong nhịp thở từng ngày với đất trời, thế nên phải chăng thơ ca tự biết bao đời nay luôn mang sứ mệnh đặc biệt khiến ta không chỉ tồn tại ở dạng thức thông thường như bao loài vật nhỏ bé trong vũ trụ bạt ngàn, xanh tươi, mà hơn hết nó còn giúp tâm hồn con người sống một cách trọn vẹn giữa nhân gian với biết bao cảm xúc đan xen, hoà quện? Nếu đúng vậy, thì nhà thơ tựa một kiến trúc sư hàng ngày kiến tạo cuộc sống của bạn đọc qua hàng loạt ngôn từ đã được gọt giũa, tỉ mỉ, chọn lọc cất lên trong tâm hồn mình một cách vô cùng thiêng liêng, cao quý. Chẳng vậy mà, khi đọc những tiếng thơ nhẹ nhàng, bồng bềnh trong lời hát của Nguyễn Hữu Bào ta không chỉ thấy rõ đủ đầy tâm tư, tình cảm của thi sĩ hơn thế còn lâng lâng cảm xúc của mình trong dư vị thật ngọt ngào:

Đêm qua mưa thật là to
Trăng sao ướt hết tối mò buồn ghê
Sáng nay trời vội trở về
Chiếu muôn tia nắng trên đê trong làng

Bầy chim mừng rỡ hót vang
Vườn hoa trước ngõ bướm vàng nhởn nhơ.

Cánh cửa thi ca khẽ mở ra là khi ta bước vào thế giới bao la, say đắm vô cùng, hân hoan vô tận theo bước chân tác giả ngao du khắp nơi từ khoảnh khắc “đêm qua” đầy tăm tối lại buồn bã trong tiếng “mưa” rơi vang lên “thật to” xuyên qua không gian chạm vào tận lòng ta ào ào, dữ dội, đáng sợ biết bao. Có lẽ, với trái tim nhạy cảm trước sự sống, ánh mắt xanh non biêng biếc của đứa trẻ say mình cùng vạn vật, nhà thơ đã rung động thật tha thiết trước màn đêm huyền bí, trong khung cảnh “tối mò”, dò dẫn, cúi mình thật lâu tìm ánh sáng trên con đường quê mịt mờ, thăm thẳm, bao la bủa vây mà đến ngay cả “trăng sao” cũng “ướt hết” một hột sáng mong manh không còn, chẳng thể soi đường ta đi. Nhịp thơ thật đặc biệt, kết hợp cùng biện pháp nhân hoá khiến bạn đọc chìm đắm trong âm hưởng da diết, thân thương, vô cùng đáng yêu, gần gũi “trăng” và “sao” ngấm giọt mưa long lanh, lạnh gía che mờ vầng sáng để người chẳng thấy rõ đường khiến cảnh tan tác dần mà trở lên ảm đạm nơi màn mưa. Để rồi, ta chỉ còn thấy vang lên giữa không gian của bài thơ âm điệu trách cứ nhẹ nhàng, man mát sau tiếng thở dài “buồn ghê” cũng khẽ thấm vào lòng ta cảm giác lành lạnh, cô đơn của bầu trời sau cơn mưa rào như trút nước ấy. Đến đây, chẳng phải chỉ nhờ những ngôn từ nhỏ bé, cất lên giữa không gian của làng quê yên bình ta bỗng chốc bước chân vào tâm hồn thi nhân mà cảm nhận rõ tình cảm tha thiết, mãnh liệt trước vạn vật hay sao? Thế nhưng, cái hay của câu thơ không chỉ ở nét tâm trạng có phần nũng nịu, hờn giận vô cùng đáng yêu mà sâu trong đó còn khiến người đọc rung rinh, bồng bềnh theo từng tiếng cười trong trẻo đầy lạc quan nơi bức tranh bình minh tươi mới khi “sáng nay” vạn vật thức dậy đã thấy “trời” tất tả, hối hả mà “vội”“trở về” cùng nhân gian làm khung cảnh thiên nhiên khoác lên màu áo rực rỡ, lung linh. Từ đó, kéo theo vạn vật thay sắc đổi màu cùng nhau hoan ca đắm say, ngọt ngào vào khoảnh khắc “muôn tia nắng” nhảy múa cười tươi e lệ nép “trên đê trong làng”, rộn rã “Bầy chim” giật mình bỗng cất tiếng “mừng rỡ hót vang”, để rồi kéo theo hoa lá cũng rộn ràng nghiêng mình khoa sắc mời gọi “bướm vàng nhởn nhơ”. Phải chăng, vạn vật đổi thay không chỉ vì khung cảnh bình minh rực sáng, le lói sau rặng tre, dãy núi mà ắt hẳn do lòng người hân hoan, mê say đúng như cảm nhận mong manh, tha thiết mà Nguyễn Du đã từng nói:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Thế nên, bức tranh thiên nhiên được tác giả khắc hoạ với những đường nét tinh tế sống động giờ đây tràn ngập hạnh phúc qua biện pháp nhân hoá, liệt kê kết hợp với cảm nhận tinh tế trong việc huy động tất cả các giác quan cùng tụ hội, gom góp mở ra cánh cửa thiên nhiên vô cùng tươi trong, rạng rỡ như chính lòng người đang hân hoan, mê say vậy. Bởi thế, mỗi áng thơ là một dòng thác chảy nhẹ nhàng, len lỏi vào từng ngách nhỏ trong tim ta ấm nồng những giá trị nhân văn cao đẹp của đời, nếu đúng như thế, thì tác phẩm “Bài thơ yêu đời” của nhà thơ Nguyễn Hữu Bào sẽ mãi là một suối nguồn thiêng liêng, cao lớn được lưu lại mãi mãi trong lòng người đọc bao thế hệ và sống cùng dòng văn học Việt Nam muôn đời mà ta không thể nào quên trong hành trình cuộc đời chính mình để ta ngộ ra rằng bóng tối trần gian có bao nhiêu, mưa rền rã, ủi mị ra sao thì nếu ta an nhiên, bình tĩnh sống trời sẽ lên, nắng sẽ về như đúng câu nói mà Bác đã từng gửi lại cho chúng ta còn mãi đến tận ngày hôm nay:

Hết mưa là nắng hửng lên thôi
Hết khổ là vui vốn lẽ đời.

II. HƯỚNG DẪN VIẾT ĐOẠN VĂN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TRUYỆN

1. Các bước viết đoạn văn phân tích tác phẩm truyện

Bước 1: Phân tích đề (2 phút – gạch chân vào đề)

  • Gạch chân vào đề:

– Vấn đề nghị luận: đề bài yêu cầu làm rõ điều gì? (thường nằm sau chữ “về…”, “cảm nhận của em về…”, “phân tích về…”)

– Phạm vi phân tích: một nhân vật, đoạn trích nào, tình huống truyện… cần phân tích

– Hình thức: Đoạn văn (viết liền mở đoạn – thân đoạn – kết đoạn không được xuống dòng)

Ví dụ 1: Viết đoạn văn phân tích truyện ngắn mà em đã học và yêu thích nhất trong chương trình THCS?

  • Vấn đề nghị luận: Phân tích truyện ngắn 
  • Phạm vi phân tích: Toàn bộ tác phẩm
  • Hình thức: Đoạn văn ngắn

Ví dụ 2: Viết đoạn văn phân tích nhân vật người cha trong truyện “Chở con đi học”?

  • Vấn đề nghị luận: Phân tích nhân vật người cha 
  • Phạm vi phân tích: Các sự việc, diễn biến xãy ra liên quan tới nhân vật người cha.
  • Hình thức: đoạn văn ngắn

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý (5 phút – Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề)

  • Tìm ý (5 phút – Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề )

1. Xác định đề tài, chủ đề :

– Đề tài: Nên dựa vào phạm vi đời sống hoặc đối tượng nhân vật.

– Chủ đề: Xem nội dung chính mà văn bản chuyển tải: Cần dựa vào nhan đề, nội dung hướng đến và thông điệp rút ra để tìm.

Ba chở con đi học

Năm con vào trường mẫu giáo, ba chở con đi học bằng chiếc Cub 50. Trên đường đi, trong lúc dựng xe ngoài sân trường và cả khi chia tay ở cửa phòng học, con cứ nói mãi một câu: “Ba ơi! Hết giờ, ba rước con sớm nhứt nghen, ba”. Ba cũng lặp đi lặp lại không biết chán: “Ừ! Ba sẽ đến sớm nhứt!”.

Suốt thời con học mẫu giáo, chỉ có một lần ba không phải là người đến sớm nhất. Phố đang mưa, ba chạy nhanh quá, không tránh kịp chiếc xe tải bất ngờ quẹo cua, đành thắng gấp. Chiếc Cub lết đi mấy chục mét, ba ngã nằm dưới gầm xe tải. May mà thoát chết! Lồm cồm bật dậy, chạy đến trường, hối hả ẵm con, hối hả xin lỗi. Con làm thinh, nhìn mãi mặt ba, lâu lắm, chợt nói: “Ba ơi, sao trán ba có máu?”.  Năm con vào tiểu học, đường đến trường xa hơn. Ba vẫn chở con trên chiếc Cub cũ mèm. Buổi sáng, hễ chia tay nhau ngoài cổng trường là con nhắc: “Ba ơi! Ba cứ đứng đây nghen, ba! Khi nào con vô lớp rồi ba hãy về nghen, ba!”. “Ừ! Ba sẽ đứng đây! Đừng lo!”. Con đi qua sân, đến tận hành lang phòng học vẫn quay ra, dáo dác ngó, xem ba có còn đứng đó hay không. Ba đứng nhìn cái lưng nhỏ xíu của con lẫn trong đám học trò, giơ tay thật cao cho con thấy, đợi đến khi con vào lớp mới chạy vội cho kịp giờ dạy. Suốt thời con học tiểu học, cũng chỉ đúng một lần ba không đứng lại mà hộc tốc chạy đi. Ba chạy hơn trăm mét, bỗng giật mình, nôn nao, khó chịu lạ lùng, đành quay lại, len qua cánh cổng trường sắp đóng, nhìn vào, thấy con đứng tần ngần giữa hành lang vắng. Lúc thấy ba ló đầu vào, ánh mắt con sáng lên như có một giọt nước phản chiếu ánh nắng sớm. Con giơ tay, mỉm cười, miệng mấp máy như muốn nói: “Chạy nhanh lên, ba. Cho kịp giờ! Con vào lớp nghen!”. Ông bảo vệ chưa đành đóng cổng trường, lắc đầu, cười: “Bữa nào cũng vậy!”.Năm con vào cấp II, trường xa thêm chút nữa. Chiếc Cub cà tàng giờ uống xăng như uống nước, tuần nào cũng phải đem đến tiệm sửa hai, ba lần, nên ba và con phải thức sớm, dẫn xe ra hẻm, đạp cho nó nổ máy, phun khói đen mù mịt một lúc mới chịu chạy êm. Ba không còn đón con sớm nhất nữa mà có khi trễ, rất trễ vì thỉnh thoảng xe xì vỏ, nghẹt xăng… Một lần, mưa rất to, phố xá chìm trong nước. Xe ướt bugi, chết máy. Ba xuống xe, dặn: “Con cứ mặc áo mưa, ngồi trên xe để ba dẫn qua chỗ ngập”. Ba lội bì bõm trong nước, đẩy xe len trong dòng người cũng đang vật vã với cảnh nước ngập đến đùi. Bỗng thấy chiếc xe nhẹ hơn, quay lại, thấy con đã cởi áo mưa, nhảy xuống từ lúc nào, cắn răng đẩy tiếp. Ba và con về đến nhà ướt mem, vậy mà vẫn nhìn nhau cười. Năm con vào cấp III, trường xa lắm, mỗi ngày hai lượt đi, về hơn 20 cây số. Chiếc Cub đã bán cho đồng nát. Ba mua chiếc Dream mới, không còn sợ cảnh chết máy dọc đường. Con ngồi phía sau, nói đủ chuyện trên đời: chuyện nhà, chuyện trường, chuyện thầy cô, bè bạn… Có khi xe đã đến cổng trường mà chuyện còn chưa dứt. Trong tiếng mưa, tiếng còi chói tai, tiếng máy xe gầm rú, tiếng cãi vã, hò hét xô bồ giữa đám khói bụi, giữa những ngã tư, ngã năm ùn ứ người và xe giờ cao điểm, ba vẫn nghe rất rõ tiếng con liến thoắng, vì tiếng nói đó ở ngay sau lưng ba. Ngày con thi đại học, ba chở con đến trường rất sớm rồi chờ ngoài cổng, chen chúc trong nhóm cha mẹ cũng ngồi chờ con, hết đứng lại ngồi. Gặp vài học sinh nộp bài ra sớm, cả nhóm nhao nhao bu lại hỏi: “Ra tác phẩm gì, con?”, “Đề khó không, con?”… Ba chạy mua một ly nước mía, đợi con ra khỏi cổng trường là vội vã đưa: “Uống đi con! Cho khỏe rồi về! Làm bài được không, con?”. Con cầm ly nước mía, ngó ba, chớp mắt mấy cái như bối rối: “Chắc không tệ ba à!”. “Đâu, đưa đề ba coi!”. Con cười, lấy đề đưa cho ba. Ba cắm cúi đọc, toàn số và hình, công thức và đồ thị, chẳng biết ất giáp gì. Nhưng thôi, cứ lướt qua cho yên tâm.

Con đi học xa, vậy mà thỉnh thoảng, trong giấc ngủ, ba vẫn hay choàng tỉnh, hoảng hốt vì hình như đã thức dậy trễ giờ đưa con đi học. Biết rằng ở thành phố, chiếc xe là phương tiện tối hậu, nếu không con phải thức sớm, đi bộ cả quãng đường ba cây số từ ký túc xá đến lớp mới kịp giờ, nhưng cứ dụ dự mãi vì lo tình hình giao thông phức tạp, lỡ có bề nào… Cuối cùng, đành bấm bụng đem chiếc Dream lên Sài Gòn cho con đỡ chân. Căn nhà chật chội vì thường khi có chiếc xe dựng chiếm chỗ, giờ bỗng rộng mênh mông. Cứ thấy thiêu thiếu một cái gì! Con ra trường rồi ở lại Sài Gòn làm việc. Ba đi thăm con, đang chờ ngoài cổng bến xe Miền Tây thì nghe con gọi. Con chạy chiếc Dream ba cho, trờ tới, với tay xách túi đồ, nói: “Lên xe đi ba! Con chở ba về”. Ba ngồi sau lưng con, đi qua chằng chịt phố xá, xe chen xe, người chen người, hoa cả mắt. Con luôn miệng giải thích: “Ở đây người ta chạy nhanh lắm, không giống ở quê mình!”, “Chỗ này có quán ăn miền Tây nè ba!”, “Mình vừa qua Đầm Sen đó ba”… Ba làm thinh nghe con nói, tiếng nói không còn vang lên từ phía sau mà từ phía trước. Hết nghe rồi lại nhìn! Ba nhìn tấm lưng dài và rộng của chàng trai trẻ, rưng rưng nhớ cái lưng nhỏ xíu của con ngày mới vào tiểu học. Rồi ba nhìn con đường trước mặt, dài thăm thẳm, lóa nắng, ngập khói bụi, ken đặc xe cộ, nửa ngao ngán, nửa thắc thỏm, tưởng tượng những sáng, những chiều, những tuần… con từ nhà đến chỗ làm rồi từ chỗ làm về nhà trên chiếc Dream đã rệu rã. Ba nói: “Ráng làm có tiền đổi xe mới đi, con! Chiếc này tệ lắm rồi!”. Con quay lại, đùa: “Còn chạy tốt mà ba! Con ráng o bế nó, để dành chở cháu nội ba đi học!”. Ba cười cười, mắng con: “Thằng cha mày!…”.

  • Đề tài: Tình cảm gia đình
  • Nhân vật: Người cha trong kí ức của con
  • Chủ đề: Công lao to lớn của người cha trong việc dạy dỗ con lên người qua hành trình chở con đi học đầy yêu thương (Dựa vào chủ đề, nội dung truyện để rút ra)

2. Xác định bố cục và nội dung chính:

– Tác phẩm đã học ta cần nhớ lại các kiến thức về văn bản.

– Các tác phẩm ngoài sách giáo khoa nên ta cần đọc kĩ truyện ngắn được phân tích nhiều lần, nhớ cốt truyện để xác định bố cục, thông thường ta có các cách chia như sau:  (Chia bố cục+ xác định nội dung và nghệ thuật giống như cách chia trong bài văn phân tích tác phẩm truyện)

  • Lập dàn ý (5 phút – Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề)

2. Dàn ý cơ bản của dạng đề phân tích truyện ngắn

 Phần Nội dung
 Mở đoạn: – Giới thiệu tác giả, tác phẩm + Khái quát nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật tác phẩm.
 Thân đoạn:Phân tích, đánh giá ý nghĩa nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật:

– Luận điểm 1: Phân tích, làm sáng tỏ giá trị nội dung chủ đề.

– Luận điểm 2: Phân tích đặc sắc nghệ thuật.

– Luận điểm 3: Đánh giá (Không trùng với kết bài).

 Kết đoạn:– Khẳng định lại vấn đề + Cảm nhận của bản thân.
  • Bước 3: Viết bài (35 đến 45 phút – trình bày sạch sẽ, cẩn thận)

– Khi viết bài, cần bám sát dàn ý đã lập; sử dụng đa dạng các hình thức trích dẫn; kết hợp phân tích với nhận xét, đánh giá

– Sử dụng từ ngữ chính xác, chọn lọc; diễn đạt sáng rõ, thể hiện được cảm xúc của người viết

  • Bước 4: Đọc lại bài (3 phút – nếu còn thời gian)

– Chú ý đọc lại những câu mở bài, thân bài, kết kết xem đã viết đúng, rõ ràng chưa.

– Kiểm tra lỗi chính tả và diễn đạt.

– Nếu có lỗi cần sửa thì gạch đi sửa lại thật sạch sẽ.

3. Cách viết từng đoạn trong bài văn phân tích tác phẩm truyện

a. Cách viết mở đoạn:

– Yêu cầu: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu yêu cầu đề bài

  • Các cách viết mở bài (Chỉ viết 1 câu văn ngắn):

Cách 1: Truyện … là sáng tác tiêu biểu của tác giả …. Bằng giọng kể …, tác phẩm đã khắc họa/ca ngợi/tái hiện/phản ánh …; qua đó thể hiện … và gửi gắm những thông điệp nhân văn sâu sắc về cuộc sống.

Cách 2: Nhà phê bình văn học G.Jung từng viết “Từ sự không thỏa mãn với đương thời, nỗi buồn sáng tạo dẫn đưa nghệ sĩ đi vào bề sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên tượng có khả năng bù đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại”, và trong tác phẩm… nhà văn/nhà thơ đã để cái nguyện tượng ấy sống dạy mạnh mẽ trong những trang văn của mình.

Cách 3: “Nhà văn/nhà thơ.. đã từng tâm sự: . Và đó là lí do để.. ra đời với tất cả những thương quý của.. và cả những ánh ngời trên trang sách.”

Cách 4: Văn học như một thiên thần, nó mang sứ mệnh che chở và bảo vệ con người. Trong tác phẩm ……, nhà văn… đã để ngòi bút tinh tế của mình thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả đó qua hình tượng nhân vật… thật ấn tượng.

Ví dụ:

Cách 1: Truyện Chở con đi học là sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Kim Châu. Bằng giọng kể nhẹ nhàng, chân thực và giàu cảm xúc, tác phẩm đã khắc họa hành trình trưởng thành của người con gắn liền với những năm tháng người cha âm thầm đưa đón đến trường; qua đó thể hiện tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng và gửi gắm những thông điệp nhân văn sâu sắc về tình yêu thương, sự hi sinh cũng như lòng biết ơn đối với đấng sinh thành.

Cách 2: Văn học tựa như một thiên thần mang sứ mệnh nâng đỡ, chở che và gìn giữ những giá trị tốt đẹp của con người. Với truyện ngắn Chở con đi học, nhà văn Nguyễn Kim Châu đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả ấy bằng ngòi bút tinh tế, giàu cảm xúc khi khắc họa thành công hình tượng người cha giàu yêu thương, luôn âm thầm hi sinh vì con. Qua đó, tác giả không chỉ ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng mà còn khơi gợi trong lòng người đọc niềm trân trọng, biết ơn đối với những đấng sinh thành.

b. Cách viết thân đoạn:

– Yêu cầu: Thân bài phải có hệ thống luận điểm rõ ràng, đầy đủ 3 luận điểm chính:

  • Luận điểm 1: Phân tích, đánh giá ý nghĩa nội dung chủ đề (Bám sát vào bố cục, mỗi nội dung được chia trong bố cục ta căn cứ là một luận cứ để phân tích)
  • Luận điểm 2: Phân tích, đánh giá một vài đặc sắc nghệ thuật (Ý nghĩa nhan đề, Kết cấu/bố cục, tình huống truyện, nhân vật,…)
  • Luận điểm 3: Đánh giá chung (1 đoạn văn)

⇒ Thân đoạn gồm nhiều câu văn, mỗi câu làm rõ một ý nhất định về nội dung hoặc nghệ thuật.

– Cách viết:

  • Cách viết luận điểm 1: Phân tích, làm sáng tỏ giá trị nội dung (Nên phân tích theo diến biến truyện bám vào cốt truyện)

Nội dung: Phân tích nội dung chính, phân tích từng hình ảnh, chi tiết trong trong truyện ngắn từ (Nên phân tích từng câu, từng hình ảnh một theo thứ tự xuất hiện theo bố cục để không bị xót ý, bám sát chi tiết để diễn giải, đánh giá).

Ví dụ: Khi phân tích truyện ngắn “Chở con đi học” ta bám sát vào các từ ngữ, chi tiết để phân tích, làm nổi bật nội dung truyện

⇒ Nội dung: Đoạn văn nói về tình cảm và sự hi sinh của người cha dành cho con suốt cuộc đời.

  • Cách viết luận điểm 2: Phân tích, đánh giá một vài đặc sắc nghệ thuật:

Ý nghĩa nhan đề, kết cấu và bố cục, tình huống truyện nhẹ nhàng, ngôn ngữ gần gũi, xây dựng hình ảnh người cha mang bóng dáng thân thuộc của người cha trong trái tim chúng ta.

Đoạn mẫu:  

Có ai nói hết được nhớ thương, ghi lại trọn vẹn đủ đầy yêu mến, gom góp chặt chẽ công lao của đấng sinh thành đã dành cho mình trong suốt quãng đời khôn lớn bằng tình yêu thương. Ấy vậy mà, trong kỉ niệm của nhân vật tôi, anh nhớ hết tất cả từng kí ức nhỏ bé khi có cha bên mình, như muốn níu giữ thật lâu khoảnh khắc có cha trên hành trình đã đi. Chẳng vậy mà, ngòi bút tiếp tục đưa theo dòng chảy của bao nhung nhớ khi con vào cấp hai, xe Cub tồi tàn ngày xưa giờ đã tựa chú ngựa già mệt mỏi, yếu ớt “tuần nào cũng phải đem đến sửa hai, ba lần”. Con đường đi học giờ xa hơn nhưng cha vẫn thế, nhẹ nhàng, lặng lẽ song hành, tuy không còn “đón con sớm nhất mà có khi trễ, rất trẽ vì thỉnh thoảng xe xì vỏ, nghẹt xăng…” mà ba thì vẫn yêu thương con vẹn nguyên như ngày mới chào đời, sẵn sàng “lội bì bõm trong nước, đẩy xe len trong dòng người” để con được bình an ngồi trên xe trong ấm áp. Rồi những năm tháng gắn với chiếc xe máy cà tàng hôm nào cũng qua, con bước cấp ba, lên đại học cha vẫn vững vàng “Trong tiếng mưa, tiếng còi chói tai, tiếng máy xe gầm rú, tiếng cãi vã, hò hét xô bồ giữa đám khói bụi, giữa những ngã tư, ngã năm ùn ứ người và xe giờ cao điểm”, để giờ đây ba lắng nghe con “nói đủ chuyện trên đời: chuyện nhà, chuyện trường, chuyện thầy cô, bè bạn…” như một người tri kỉ lặng lẽ, chẳng cần hồi đáp. Nếu trên dòng đời vội vã, thăm thẳm thời gian trôi qua chẳng có điểm dừng bạn chưa từng một lần cảm ơn cha, thì hãy một lần lắng nghe câu chuyện mở ra từ “Ba chở con đi học” để thấy từng cử chỉ nhỏ bé mà người ba đã gieo vào trái tim con mỗi ngày, rồi khi đã đủ cất cánh bây trên bầu trời của riêng mình chàng trai ấy vẫn nhớ như in sự cẩn thânh, chu đáo nơi “cốc nước mía” ngọt ngào ngày thi trong dáng tất tả của người cha đầy âm yếm. Tình yêu thương ấy rộng lớn hơn biển sâu, cao vượt dãy núi dài nuôi dưỡng con trở thành một vì sao rực rỡ, sáng chói giữa đời, vậy mà ngay cả khi đã đủ rộng dài, khôn lớn rời xa vòng tay ấm, không còn là đứa trẻ của năm nào, cha vẫn đau đáu nhớ thương con trong giấc ngủ vẫn chợt giật mình “hoảng hốt vì hình như đã thức dậy trễ giờ đưa con đi học”, chẳng nói thành lời, người cha già ấy “bấm bụng đem chiếc Dream lên Sài Gòn cho con đỡ chân”. Chỉ bằng vài chi tiết, tình huống truyện nhẹ nhàng, ngôn ngữ gần gũi việc làm giản dị ấy thôi mà sao trang giấy tràn ngập điều kì diệu, thiêng liêng, cao cả đến thế khiến mỗi người như cúi đầu mà thầm cất lời cảm ơn cha, cảm ơn bao lo toan đấng sinh thành đã dành cả thanh xuân để đánh đổi một cuộc đời bình yên nơi này cho ta.

  • Cách viết luận điểm 3: Viết luận điểm đánh giá

– Yêu cầu: Đánh giá tổng quan về vấn đề nghị luận, phạm vi phân tích và mở rộng nêu ra là những cảm nhận, đánh giá cá nhân về tác giả, tác phẩm về nội dung và nghệ thuật.( Không gộp với kết bài)

– Trình tự viết:

  • Nội dung: Khẳng định nội dung chính mà đề bài yêu cầu làm rõ (vấn đề nghị luận).
  • Nghệ thuật: Khẳng định những đặc sắc nghệ thuật của dẫn chứng đã phân tích (nên đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho những đặc sắc nghệ thuật đó). Đánh giá về tình huống truyện, cách dẫn dắt, miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ…

– Nêu nhận định hoặc liên hệ mở rộng với các tác phẩm khác cùng đề tài hoặc cùng giai đoạn sáng tác (nếu có)

Ví dụ: Phân tích tác phẩm “Chở con đi học” – Nguyễn Kim Châu ta liên hệ với hình ảnh nhân vật “Lão Hạc” của Nam Cao:

Nếu trên dòng đời vội vã, thăm thẳm thời gian trôi qua chẳng có điểm dừng bạn chưa từng một lần cảm ơn cha, thì hãy một lần lắng nghe câu chuyện mở ra từ “Ba chở con đi học” để thấy từng cử chỉ nhỏ bé mà người ba đã gieo vào trái tim con mỗi ngày, rồi khi đã đủ cất cánh bây trên bầu trời của riêng mình chàng trai ấy vẫn nhớ như in sự cẩn thânh, chu đáo nơi “cốc nước mía” ngọt ngào ngày thi trong dáng tất tả của người cha đầy âm yếm, hình ảnh dung dị ấy khiến ta nhớ tới nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm mà nhà văn Nam Cao đã khắc hoạ, khi cả một đời sẵn sàng hi sinh tất cả về con, dù phải đánh đổi bằng mạng sống của bản thân mình vì con.

C. Cách viết kết đoạn:

– Yêu cầu: Kết bài = Tổng kết lại vấn đề nghị luận và phạm vi phân tích + Liên hệ, mở rộng.

* Các đoạn mẫu:

Cách 1: Như vậy, tác phẩm B của nhà văn A đã giúp người đọc cảm nhận được bài học mang giá trị sâu sắc, để rồi dù đã khép lại, nhưng  giá trị của nó sẽ còn tồn tại mãi với thời gian.

Cách 2: Khép lại những trang văn ấy, trong lòng bạn đọc vẫn bồi hồi bao cảm xúc bởi những cảm xúc được tác giả gieo vào lòng chúng ta không chỉ tồn tại cho hôm nay mà còn mãi mai sau về , đó chính điều đó đã tạo nên sức sống bất diệt cho tác phẩm A, cho nhà văn A trong nền văn chương rộng lớn, vĩ đại này.

Ví dụ: Khép lại những trang văn ấy, trong lòng bạn đọc vẫn bồi hồi bao cảm xúc bởi những cảm xúc được tác giả gieo vào lòng chúng ta không chỉ tồn tại cho hôm nay mà còn mãi mai sau về , đó chính điều đó đã tạo nên sức sống bất diệt cho tác phẩm “Chở con đi học”, cho nhà văn Nguyễn Kim Châu trong nền văn chương rộng lớn, vĩ đại này.

Bài viết mẫu:

Đề bài: Viết đoạn văn nêu cảm nhận về hình ảnh nhân vật người cha trong tác phẩm “Chở con đi học” của nhà văn Nguyễn Kim Châu.

Dàn ý:

1. Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, truyện ngắn và nhân vật được phân tích trong đoạn trích.

2. Thân đoạn:

a. Phân tích nhân vật người cha:

– Hoàn cảnh của nhân vật người cha:

  • Hai cha con sống với nhau: Cô đơn, vừa làm cha, vừa làm mẹ, nuôi con.
  • Nghề nghiệp: Giáo viên: vất vả, nhọc nhằn cùng đời để nuôi con
  • Tài sản: Chiếc xe Cub 50: nhỏ bé, đơn xơ, không giầu có

⇒ Hoàn cảnh đặc biệt, khiến gánh nặng trên vai cha càng khó khăn, vất vả.

– Hành trình cha chở con đi học:

+ Những năm tháng con mới chập chững vào đời:

  • Mầm non: Ngày nào cũng đón con đúng giờ, đợi con vào lớp mới về: Dõi theo từng bước chân, động viên con mạnh mẽ bước đi. Có lần duy nhất đón muộn vì ba gặp tai nạn: Bất chấp đau đớn, chỉ lo con sợ hãi, mong ngóng.
  • Tiểu học: Đường xa hơn, vẫn đưa con đi học: Cẩn thận, chu đáo, lo lắng cho con. Nhìn con khuất vóng vào lớp, vẫn vẫy tay động viên phía sau: Là bờ vai vững chắc dìu con đi trên đường đời đầy nghiệt ngã. Đứa con giờ hiểu chuyện: Động viên cha an tâm đi làm: thấu hiểu sâu sắc tình yêu của cha

⇒ Cha như một bến bờ xanh thẳm nâng bước con vào đời trong bình yên, mọi sóng gió đã có cha gánh vác

+ Những năm tháng khôn lớn:

  • Cấp hai cha chở đi học: Trời mưa ba vẫn để con được bình yên mà dắt xe lội qua nước lũ: Sẵn sàng hi sinh tất cả chỉ để con bình yên, hạnh phúc.
  • Cấp ba: Trường xa hơn con đi học mỗi ngày vẫn có cha ngồi đằng trước lắng nghe đủ chuyện: Người bạn tri kỉ gần gữi với con
  • Thi đại học: hỏi han con, xem đè thi, mua nước mía cho con: Tận tình, chu đáo, hướng từng bước con đi.
  • Con lên đại học: Đưa xe để con đữo đi bộ: Đau đáu nỗi lòng mong con không vất vả.
  • Khi con đi làm: Động viên con mua xe: Muốn con được bằng đời, không chịu thiệt thòi

– Đứa con giờ đây đã chở được ba, gánh vác thay ba nhọc nhằn, nối tiếp con đường là cha tương lai trao yêu thương cho thế hệ tương lai.

⇒ Bản tình ca tha thiết rực cháy trên hành trình làm cha đầy yêu thương của nhân vật đã gửi lại cho ta rất nhiều thông điệp cao quý, nghẹn ngào.

3. Kết đoạn: Cảm nhận về nội dung, nghệ thuật của truyện ngắn “Ba chở con đi học” và nhân vật người cha.

Bài làm:

Văn học như một thiên thần, nó mang sứ mệnh che chở và bảo vệ con người. Trong tác phẩm “Chở con đi học” nhà văn “Nguyễn Kim Châu” đã để ngòi bút tinh tế của mình thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả đó qua hình tượng nhân vật người cha thật ấn tượng. Đó là  từng bước đi chập chững tới bóng dáng chàng trai trưởng thành khẽ mở theo từng nhịp đời hối hả giữa vòng tay ba, được nhà văn kể lại ngày từ những năm đầu đời ngay lúc “vào trường mẫu giáo” trên chiếc xe Cub 50 người ba ấy luôn chở con đi học. Còn hơn cả một tình yêu thương, có lẽ nếu đủ đầy để kể về người cha trong câu truyện đẹp đẽ, tinh khôi vương màu vàng nắng ấy còn là một con người có trách nhiệm, hi sinh nỗi đau của riêng mình chỉ để con được an tâm vào đời. Vì “ Suốt thời học mẫu giáo, chỉ có một lần ba không phải là người đến sớm nhất”, bởi “chạy nhanh quá, không kịp tránh chiếc xe tải bất ngờ quẹo cua, đành thắng gấp”, người cha ấy nằm dưới gầm xa “May thoát chết”, vẫn quê cả thân mình “Lồm ngồm bật dậy, chạy đến trường” mà “hối hả ẵm con, hối hả xin lỗi” mặc kệ máu vẫn rơi, vết thương còn nguyên đó. Nếu trên dòng đời vội vã, thăm thẳm thời gian trôi qua chẳng có điểm dừng bạn chưa từng một lần cảm ơn cha, thì hãy một lần lắng nghe câu chuyện mở ra từ “Ba chở con đi học” để thấy từng cử chỉ nhỏ bé mà người ba đã gieo vào trái tim con mỗi ngày, rồi khi đã đủ cất cánh bây trên bầu trời của riêng mình chàng trai ấy vẫn nhớ như in sự cẩn thânh, chu đáo nơi “cốc nước mía” ngọt ngào ngày thi trong dáng tất tả của người cha đầy âm yếm, hình ảnh dung dị ấy khiến ta nhớ tới nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm mà nhà văn Nam Cao đã khắc hoạ, khi cả một đời sẵn sàng hi sinh tất cả về con, dù phải đánh đổi bằng mạng sống của bản thân mình vì con.Để rồi, từ dòng chảy câu truyện ta tiếp tục ru mình vào miền nhớ nơi tôi hôm nào tới những ngày tiểu học dần khôn lớn hơn, nhưng cha vẫn là người tất tả, vội vã với “đường đến trường xa hơn” mà ba chở con đi trên đường, như cả khoảng đời xa xôi, xanh biếc vẫn lặng lẽ trôi qua. Thế nhưng, sâu thẳm nơi kí ức của con còn nguyên bao ấm áp lúc chia tay nhau ngoài cổng trường trong niềm bịn rịn, giây phút ấy để con không lạc lõng giữa đời “con đi qua sân, đến tận hành lang phòng học vẫn quay ra, ráo rác ngó xem” còn cha vẫn lặng lẽ đứng đó cố “giơ tay thật cao”, rồi “đợi đến khi con vào lớp mới chạy vội cho kịp giờ dạy”. Rồi, thời gian cũng qua, những năm tháng đầu đời vội vã nhường lại cho kí ức ngọt ngào ngày tiểu học, thế nhưng ba chẳng khác vẫn yêu thương con vô điều kiện, dù có hôm vội vã, muộn làm, tất bật cùng thế giới hối hả, đã có lúc “ba không đứng lại mà hộc tốc chạy đi”, nhưng vì ấy náy, vì lòng yêu thương, lo lắng và hơn hết là lời hứa của một con người bước chân bỗng “giật mình, nôn nao, khó chịu lạ lùng, đành quay lại, len qua cánh cổng trường sắp đóng”, thế mới thấy tấm lòng bao la, rộng lớn của ba vĩ đại đến dường nào. Đó chính là những lo lắng mà mọi người cha luôn gom lại trong tim mình thầm lặng suốt bao năm tháng, chẳng bao giờ kể lể, kêu than, chỉ mong mỗi hành trình con qua bình yên, an nhiên mà mạnh mẽ. Khiến con thấu hiểu, suy nghĩ mà thương ba hơn giờ đây không còn sợ hãi cầu cứu cái vẫy tay hôm nào mà vui vẻ động viên “Chạy nhanh lên ba. Cho kịp giờ! Con vào lớp nghen!”. Ấy vậy mà, trong kỉ niệm của nhân vật tôi, anh nhớ hết tất cả từng kí ức nhỏ bé khi có cha bên mình, như muốn níu giữ thật lâu khoảnh khắc có cha trên hành trình đã đi. Chẳng vậy mà, ngòi bút tiếp tục đưa theo dòng chảy của bao nhung nhớ khi con vào cấp hai, xe Cub tồi tàn ngày xưa giờ đã tựa chú ngựa già mệt mỏi, yếu ớt “tuần nào cũng phải đem đến sửa hai, ba lần”. Con đường đi học giờ xa hơn nhưng cha vẫn thế, nhẹ nhàng, lặng lẽ song hành, tuy không còn “đón con sớm nhất mà có khi trễ, rất trẽ vì thỉnh thoảng xe xì vỏ, nghẹt xăng…” mà ba thì vẫn yêu thương con vẹn nguyên như ngày mới chào đời, sẵn sàng “lội bì bõm trong nước, đẩy xe len trong dòng người” để con được bình an ngồi trên xe trong ấm áp. Không còn là đứa trẻ của năm nào, cha vẫn đau đáu nhớ thương con trong giấc ngủ vẫn chợt giật mình “hoảng hốt vì hình như đã thức dậy trễ giờ đưa con đi học”, chẳng nói thành lời, người cha già ấy “bấm bụng đem chiếc Dream lên Sài Gòn cho con đỡ chân”. Khép lại những trang văn ấy, trong lòng bạn đọc vẫn bồi hồi bao cảm xúc bởi những cảm xúc được tác giả gieo vào lòng chúng ta không chỉ tồn tại cho hôm nay mà còn mãi mai sau về , đó chính điều đó đã tạo nên sức sống bất diệt cho tác phẩm “Chở con đi học”, cho nhà văn Nguyễn Kim Châu trong nền văn chương rộng lớn, vĩ đại này.

Đề bài tham khảo:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang