Phần I: Đọc hiếu (4,0 điểm)
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu sau:
ĐÔI MẮT
Tàu chuyển bánh. Ba anh em chúng tôi trong khoang giường nằm bắt đầu không ngớt nhắc lại những kỷ niệm về anh. Những người lính 307 chúng tôi gọi anh là Hai Sáng vì hồi ấy anh em chúng tôi có mắt cùng như mù. Không ai biết chữ. Thư vợ, thư người thân nhờ anh đọc hộ. Có những chuyện thầm kín, riêng tư phải để anh thọc lét hoặc cõng anh lên, anh mới chịu đọc cho.
Cô lần đọc đến chỗ quan trọng nhất, hồi hộp nhất: “Cái thai vụng” của người vợ thẳng Lễ, anh bắt nó phải quay và trở lại đúng chỗ thì anh mới đọc tiếp cho nghe. Những người lính Nam Bộ chúng tôi thương cái tính anh: có chữ mà thật thà, chất phác. Ai cũng quý anh như người anh ruột. Có một điếu thuốc, một gói chuối xào dừa vợ gửi sang đều đem dúi vào túi anh.
Hồi ấy chúng tôi đã hứa với nhau dù sống chết gì hòa bình cũng sẽ kéo về đông đủ ở nhà anh; công anh; thọc lét.
Tàu đến ga Đà Nẵng nửa đêm. Chúng tôi ra lộ ngồi chờ đến mờ sáng thì đón xe về Đại Lộc; quê anh. Đi bộ; đi đò, rồi đi quanh hết xóm này đến xóm khác hỏi nhà tới nửa buổi chiều vẫn không ai biết. May mà có một đứa trẻ chỉ giùm.
– Dạ, có phải anh Hai Sáng đây không chị?
Người đàn bà ngờ ngợ nhìn chúng tôi rồi đi thật lẹ vào nhà. Chúng tôi hồi hộp đứng chờ. Từ trong nhà một người đàn ông chống gậy dò dẫm bước ra.
– Mấy bác kiếm ai đó? – Dạ; có phải nhà anh Hai Sáng đây không chị?
Người đàn bà ngờ ngợ nhìn chúng tôi rồi đi thật lẹ vào nhà. Chúng tôi hồi hộp đứng chờ. Từ trong nhà một người đàn ông chống gậy dò dẫm bước ra.
– Trời! Anh Hai!
– Anh Hai Sáng!
– Tụi em đây nè! Tư Tranh, Sáu Dĩnh, Hai Voi 307 đây anh.
Chúng tôi ôm chầm lấy anh òa khóc.
– Tụi bay tới đầy hồi nào hả?
– Dạ, hồi sáng sớm.
– Phải tụi bay hỏi Hai Mù thì ai mà chẳng biết!
– Mà sao lại thế này anh Hai?
– Thì về cuốc đất, vỡ rẫy … giẫm phải mìn … Ông nội cha nó! Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối. Bây giờ thì làm răng đọc giùm thơ cho tụi bay!
Anh cười, mà chúng tôi lại khóc. Đứng giữa sân khóc như ba đứa trẻ. Những kỷ niệm cũ cứ dồn về. Bỗng từ trong đôi mắt mù sau tham của anh nước mắt long lanh nhỏ xuống.
– Còn thiếu thẳng Lễ nữa! Tội nghiệp nó; nó chết mà tao chưa kịp viết giùm thư cho vợ nó.
(Lê Đình Bích, Trích 100 truyện hay cực ngắn, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 1999)
Câu 1 (0,5 điểm): Truyện được kế theo ngôi thứ mấy?
Câu 2 (0,5 điểm): Vì sao nhân vật Hai Sáng được gọi bằng biệt danh này trong câu chuyện?
Câu 3 (1,0 điểm): Từ “sáng” và “tối” trong câu văn “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” được hiểu theo nghĩa nào? Tác giả muốn nhấn mạnh điều gì qua cách sử dụng này?
Câu 4 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Những người lính 307 chúng tôi gọi anh là Hai Sáng vì hỏi ấy anh em chúng tôi có mặt cũng như mù”.
Câu 5 (1,0 điểm): Từ câu chuyện về nhân vật Hai Sáng, em rút ra bài học gì về tình đồng đội và giá trị của sự cống hiến trong cuộc sống?
Phần II: Viết (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về chi tiết: “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” được nhắc đến trong văn bản Đôi mắt.
Câu 2 (4 điểm): Hiện nay, giới trẻ ít quan tâm đến những sản phẩm văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc như các trò chơi dân gian, những làn điệu dân ca, hát xẩm, các vở tuồng, chèo, cải lương, đờn ca tài tử… Trong khi đó, việc tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cải lương, đờn ca tài tử… Trong khi đó, việc tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là một trong những trách nhiệm của giới trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước.
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề trên.
* GỢI Ý LÀM BÀI:
Phần I: Đọc hiểu (4,0 điểm)
Câu 1. Truyện được kế theo ngôi thứ mấy?
– Truyện được kế ở ngôi thứ nhất.
Câu 2. Vì sao nhân vật Hai Sáng được gọi bằng biệt danh này trong câu chuyện?
– Anh có biệt danh này vì khi còn chiến đấu, anh là người biết chữ, giúp các đồng đội đọc thư từ. Điều này như ánh sáng soi rọi cho những người lính mù chữ. Tuy nhiên, ở hiện tại, anh lại bị mù, tạo nên nghịch lý giữa cái tên và tình trạng của anh.
Câu 3. Từ “sáng” và “tối” trong câu văn “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” được hiểu theo nghĩa nào? Tác giả muốn nhấn mạnh điều gì qua cách sử dụng này?
– Nghĩa của từ “sáng”; “tối” trong văn bản:
+ “Sáng” thể hiện sự minh mẫn, mạnh khỏe của nhân vật Hai Sáng khi còn trong chiến tranh.
+ “Tối” chỉ tình trạng mất đi đôi mắt, sự khốn khó trong cuộc sống của anh sau khi chiến tranh kết thúc.
– Qua cách sử dụng hai từ đối lập “sáng – tối”, tác giả muốn nhấn mạnh:
- Nỗi đau, mất mát mà chiến tranh để lại cho con người ngay cả khi hòa bình đã lập lại.
- Sự hi sinh thầm lặng của người lính sau chiến tranh.
- Đồng thời thể hiện niềm xót xa, cảm thương trước số phận của anh Hai Sáng.
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Những người lính 307 chúng tôi gọi anh là Hai Sáng vì hỏi ấy anh em chúng tôi có mắt cũng như mù”.
– Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “anh em chúng tôi có mắt cũng như mù” có tác dụng:
- Giúp câu văn có tính gợi hình ảnh, sinh động.
- Nhấn mạnh tình trạng không biết chữ của những người lính. Qua đó làm nổi bật vai trò của anh Hai Sáng đối với đồng đội: anh là người mang ánh sáng tri thức đến cho mọi người.
- Cách diễn đạt sinh động, gần gũi, thể hiện tình cảm quý trọng, yêu thương của đồng đội dành cho anh.
- Điều này đồng thời thể hiện sự kính trọng và tình cảm đặc biệt mà mọi người dành cho anh.
Câu 5. Từ câu chuyện về nhân vật Hai Sáng, em rút ra bài học gì về tình đồng đội và giá trị của sự cống hiến trong cuộc sống?
– Từ câu chuyện về nhân vật Hai Sáng, em rút ra bài học:
- Cần biết trân trọng tình đồng đội, tình người chân thành trong cuộc sống.
- Phải sống yêu thương, giúp đỡ nhau bằng cả tấm lòng, dù là những việc nhỏ bé.
- Sự cống hiến thầm lặng cho người khác luôn đáng quý và có ý nghĩa lớn lao.
- Đồng thời cần biết ơn những người đã hi sinh, chịu nhiều mất mát vì chiến tranh để đem lại hòa bình hôm nay.
* Cụ thể:
– Bài học về tình đồng đội: Tình đồng đội là tình cảm gắn bó, sẻ chia, đùm bọc lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là trong khó khăn và hoạn nạn. Đây là nguồn sức mạnh to lớn giúp con người vượt qua những thử thách trong cuộc sống.
– Bài học về giá trị của sự cống hiến: Sự cống hiến không chỉ mang lại ý nghĩa cho cuộc đời mỗi con người mà còn để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng những người xung quanh. Nhân vật Hai Sáng là minh chứng cho giá trị của sự hy sinh thầm lặng và lòng nhân ái trong cuộc đời.
Phần II: Viết (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về chi tiết: “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” được nhắc đến trong văn bản Đôi mắt.
1. Đảm bảo cấu trúc và dung lượng đoạn nghị luận văn học.
2. Xác định đúng văn đề nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về chi tiết: “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” được nhắc đến trong văn bản “Đôi mắt”.
3. Triển khai đề văn nghị luận thành các luận điểm:
a. Mở đoạn:
– Dẫn dắt vấn đề: Trong cuộc sống, có những nghịch lý khiến con người không khỏi xót xa, và câu nói “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” của nhân vật Hai Sáng là một minh chứng điển hình.
– Nêu luận điểm: chi tiết này là biểu tượng cho sự tàn khốc của chiến tranh và những hệ lụy bị thương mà nó để lại trong cuộc sống con người.
b. Thân đoạn:
– Phân tích chi tiết: Chi tiết này là điểm nhấn đau đớn, phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh và những hệ lụy bi thương mà nó để lại. Khi còn trong chiến tranh, Hai Sáng là người lính mạnh mẽ, sáng suốt, nhưng khi hòa bình trở lại anh lại trở thành người khiếm thị vì giảm phải mìn khi làm rẫy. Sự đối lập giữa “sáng” và “tối” không chỉ là sự thay đổi về thể chất mà còn là biểu hiện của nỗi đau, sự mất mát vô hình mà chiến tranh đã gieo rắc.
– Ý nghĩa của chi tiết: Chi tiết này nhấn mạnh rằng chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống mà còn để lại những vết thương không bao giờ lành trong tâm hồn và cuộc sống của những người lính trở về. Nó cũng gợi lên sự bất công và cay đắng khi người lính phải đối mặt với những khó khăn trong hòa bình, thậm chí còn nặng nề hơn cả thời chiến.
c. Kết đoạn:
– Khẳng định lại ý nghĩa: Chi tiết “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối gợi lên sự bất công và cay đắng mà người lính phải đối mặt, từ đó nhắc nhớ chúng ta về giá trị của hòa bình.
– Mở rộng vấn đề: Điều này càng làm nổi bật sự cần thiết phải trân trọng, hỗ trợ những người đã hy sinh và góp phần giữ gìn hòa bình cho đất nước.
4. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
5. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả; dùng đúng từ, ngữ pháp tiếng Việt; liên kết văn bản.
Câu 2 (4 điểm): Hiện nay, giới trẻ ít quan tâm đến những sản phẩm văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc như các trò chơi dân gian, những làn điệu dân ca, hát xẩm, các vở tuồng, chèo, cải lương, đờn ca tài tử… Trong khi đó, việc tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là một trong những trách nhiệm của giới trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước.
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề trên.
* Yêu cầu về hình thức:
– Bố cục 3 phần
– Đi đúng hướng bài văn NLXH
– Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, chuẩn chính tả
* Yêu cầu về nội dung:
I. Mở bài: Giới thiệu vẫn đề cần bàn luận và nêu khái quát ý kiến/quan điểm của em về vấn đề.
II. Thân bài:
1. Giải thích vấn đề.
– “Sản phẩm văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc” là những sản phẩm chứa đựng những giá trị truyền thống tốt đẹp và đậm đà tinh thần dân tộc, thể hiện vẻ đẹp văn hóa đặc trưng, riêng biệt của đất nước và con người Việt Nam, có sự gắn bó mật thiết với đời sống, lịch sử, phong tục và tâm hồn người Việt qua nhiều thế hệ.
– “Tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc” là quá trình nhận thức, khám phá, học hỏi, trân trọng và lan tỏa những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc nhằm gìn giữ và phát triển chúng trong cuộc sống hiện đại. Việc tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc giúp mỗi người thêm yêu quê hương, tự hào về truyền thống dân tộc và có ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn văn hoá nước nhà.
2. Phân tích vấn đề
a. Thực trạng việc tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của giới trẻ hiện nay.
– Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và phát triển công nghệ số, việc tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của giới trẻ có cả những mặt tích cực và hạn chế.
+ Mặt tích cực:
- Nhiều bạn trẻ ngày càng quan tâm đến lịch sử, truyền thống, phong tục, lễ hội và các loại hình nghệ thuật dân gian của dân tộc.
- Giới trẻ tích cực quảng bá văn hoá Việt Nam qua mạng xã hội như giới thiệu áo dài, ẩm thực, nhạc cụ dân tộc, dân ca, trò chơi dân gian,…
- Một số bạn trẻ sáng tạo, kết hợp yếu tố truyền thống với hiện đại trong âm nhạc, thời trang, nghệ thuật để đưa văn hoá dân tộc đến gần hơn với đời sống hôm nay.
- Nhiều hoạt động trải nghiệm văn hoá, tham quan di tích, học lịch sử dân tộc được học sinh, sinh viên hưởng ứng tích cực.
+ Mặt hạn chế:
- Một bộ phận giới trẻ còn thờ ơ, thiếu hiểu biết về truyền thống văn hoá dân tộc.
- Chạy theo xu hướng ngoại lai, sính ngoại, bắt chước cách ăn mặc, ngôn ngữ, lối sống thiếu phù hợp.
- Nhiều giá trị văn hoá truyền thống đang dần bị mai một do ít được quan tâm, gìn giữ.
- Một số bạn sử dụng mạng xã hội thiếu chọn lọc, tiếp nhận văn hoá tiêu cực làm ảnh hưởng đến nhận thức và lối sống.
* Đánh giá chung: Nhìn chung, giới trẻ hiện nay vừa là lực lượng có khả năng tiếp nối và lan toả văn hoá dân tộc, vừa đứng trước nguy cơ xa rời các giá trị truyền thống nếu thiếu ý thức và định hướng đúng đắn. Vì vậy, mỗi người trẻ cần chủ động học hỏi, trân trọng và phát huy những nét đẹp văn hoá dân tộc trong đời sống hiện đại.
b. Nguyên nhân khiến giới trẻ ít tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
- Trước hết, do ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình hội nhập và toàn cầu hoá: Văn hoá nước ngoài du nhập mạnh khiến một bộ phận giới trẻ bị cuốn theo các xu hướng mới mà xem nhẹ giá trị truyền thống dân tộc.
- Sự phát triển của mạng xã hội và Internet: Nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho các nội dung giải trí thiếu chọn lọc, dẫn đến ít quan tâm đến văn hoá truyền thống.
- Tâm lí sính ngoại, chạy theo trào lưu: Một số người cho rằng văn hoá hiện đại nước ngoài hấp dẫn hơn nên thiếu tự hào, thiếu hứng thú với văn hoá dân tộc.
- Thiếu hiểu biết về giá trị văn hoá truyền thống: Nhiều bạn trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về lịch sử, phong tục, nghệ thuật và bản sắc văn hoá Việt Nam.
- Cách giáo dục và tuyên truyền còn khô khan: Việc truyền đạt kiến thức văn hoá trong nhà trường đôi khi chưa thật sự sinh động, chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh.
- Gia đình chưa quan tâm đúng mức: Một số phụ huynh chưa chú trọng giáo dục con em về truyền thống, nếp sống và giá trị văn hoá dân tộc.
- Nhịp sống hiện đại hối hả, bận rộn: Áp lực học tập, công việc khiến nhiều người trẻ ít dành thời gian tìm hiểu và trải nghiệm các hoạt động văn hoá truyền thống.
- Một số giá trị văn hoá truyền thống chưa được đổi mới trong cách tiếp cận: Nhiều hoạt động văn hoá còn thiếu sức hút, chưa phù hợp với sở thích và tâm lí giới trẻ hiện nay.
c. Hậu quả của việc giới trẻ ít tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
- Làm mai một những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua thời gian.
- Giới trẻ dần mất đi sự hiểu biết và niềm tự hào dân tộc, trở nên thờ ơ với lịch sử và truyền thống quê hương.
- Bản sắc văn hoá dân tộc có nguy cơ bị hòa tan trong quá trình hội nhập quốc tế.
- Nhiều phong tục, loại hình nghệ thuật truyền thống bị lãng quên, thiếu người kế thừa và gìn giữ.
- Một bộ phận giới trẻ dễ chạy theo lối sống thực dụng, sính ngoại, thiếu chọn lọc trong việc tiếp nhận văn hoá nước ngoài.
- Ảnh hưởng tiêu cực đến nhân cách và lối sống, khiến con người xa rời những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp.
- Làm suy giảm sức mạnh tinh thần và sự gắn kết cộng đồng, bởi văn hoá là nền tảng tạo nên bản sắc và tinh thần dân tộc.
- Đất nước mất đi một phần hình ảnh và giá trị riêng biệt trong mắt bạn bè quốc tế nếu văn hoá dân tộc không được gìn giữ và phát huy.
3. Giải pháp khắc phục tình trạng giới trẻ ít tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
- Các bạn trẻ cần nâng cao nhận thức về vai trò và ý nghĩa của bản sắc văn hoá dân tộc thông qua giáo dục, truyền thông và các hoạt động trải nghiệm thực tế. Chủ động tìm hiểu, học hỏi và gìn giữ văn hoá dân tộc bằng những hành động cụ thể như sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn, mặc trang phục truyền thống trong dịp phù hợp, yêu quý nghệ thuật dân gian,…
- Gia đình cần giáo dục con em về truyền thống dân tộc, giúp hình thành niềm tự hào và ý thức giữ gìn văn hoá từ nhỏ.
- Nhà trường: Đổi mới cách dạy và học văn hoá truyền thống trong nhà trường theo hướng sinh động, hấp dẫn, gắn với công nghệ và thực tiễn cuộc sống để tạo hứng thú cho học sinh.
- Tăng cường tổ chức các hoạt động văn hoá dân gian như hội thi, lễ hội, tham quan di tích lịch sử, trải nghiệm nghề truyền thống, biểu diễn nghệ thuật dân tộc,…
- Khuyến khích giới trẻ quảng bá văn hoá Việt Nam trên mạng xã hội bằng những nội dung tích cực, sáng tạo và gần gũi với xu hướng hiện đại.
- Kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, làm mới các giá trị văn hoá dân tộc để phù hợp hơn với tâm lí và sở thích của người trẻ.
- Nhà nước và các tổ chức văn hoá cần có chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hoá, đồng thời tạo nhiều sân chơi văn hoá bổ ích cho thanh thiếu niên.
4. Rút ra bài học
- Mỗi người trẻ cần nhận thức được rằng bản sắc văn hoá dân tộc là “cội nguồn” làm nên giá trị và bản lĩnh của con người Việt Nam.
- Cần chủ động tìm hiểu lịch sử, truyền thống, phong tục, nghệ thuật và những nét đẹp văn hoá của dân tộc.
- Biết trân trọng, tự hào và có ý thức gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống trong đời sống hằng ngày.
- Không chạy theo lối sống sính ngoại hay tiếp nhận văn hoá thiếu chọn lọc làm mai một bản sắc dân tộc.
- Tích cực quảng bá và lan toả văn hoá Việt Nam bằng những hành động thiết thực, sáng tạo, phù hợp với thời đại số.
- Kết hợp hài hòa giữa tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Sống có trách nhiệm với quê hương, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam cho các thế hệ mai sau.
5. Bàn luận mở rộng
- Trong thời đại hội nhập quốc tế, việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại là điều cần thiết để đất nước phát triển. Tuy nhiên, hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Nếu giới trẻ chỉ chạy theo xu hướng hiện đại mà quên đi cội nguồn văn hoá dân tộc thì những giá trị truyền thống tốt đẹp sẽ dần bị mai một.
- Bên cạnh đó, cũng cần phê phán những người có thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm với văn hoá dân tộc; sính ngoại, xem nhẹ tiếng Việt, trang phục truyền thống hay các loại hình nghệ thuật dân gian. Đây là những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức và lối sống.
- Tuy nhiên, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc không có nghĩa là bảo thủ hay khép kín. Người trẻ cần biết chọn lọc, tiếp thu những giá trị tiến bộ của thế giới để làm giàu thêm cho văn hoá Việt Nam, đồng thời vẫn giữ được những nét đẹp riêng của dân tộc. Chỉ khi biết cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, giữa hội nhập và bản sắc, văn hoá dân tộc mới có thể phát triển bền vững trong thời đại mới.
III. Kết bài:
- Khẳng định vấn đề: Vệc tìm hiểu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của mỗi người trẻ hôm nay.
- Rút ra bài học/thông điệp: Mỗi hành động nhỏ trong gìn giữ và lan toả những giá trị truyền thống đều góp phần bảo vệ “hồn cốt” dân tộc trước dòng chảy hội nhập.
- Khẳng định niềm tin: Tôi tin rằng, với ý thức, tình yêu quê hương và những hành động đúng đắn, thế hệ trẻ sẽ tiếp tục kế thừa, gìn giữ và phát huy vẻ đẹp văn hoá Việt Nam ngày càng bền vững và tỏa sáng.










