Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Phú Thọ năm 2026 (Có đáp án)

Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Phú Thọ năm 2026 (Có đáp án)

* Đề thi:

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

QUÊ HƯƠNG

(1) Chẳng có gì kỳ diệu
Bằng gương mặt quê hương
Vừa thoáng đường nhăn nếp nghĩ mẹ già
Đã tươi tắn tròn đầy như cô gái

(2) Tôi đứng giữa đồng quê lúa đang mùa gặt hái
Nhớ thời nắng hạn mắt quầng thâm
Đất quê tôi nắng rát mặt người
Gió nam như thổi từ núi lửa

[ … ]

(3) Tôi bỗng nghe niềm vui vang vọng
Trong cánh tay người gặt hái sớm nay
Đồng quê ơi, nắng gió sờn vai
Vẫn hồn hậu giọng cười trong trẻo

(4) Hạt gạo thơm mấy nắng mưa vẫn thế
Vị thật thà bền giữa thời gian
Lòng quê hương trải bày trên cây quả
Thơm dẻo mùa ngô, đồng mía ngọt vàng

(5) Quê hương tôi hiền dịu, mơ màng
Dòng sông xanh nghe bình minh ửng đỏ
Tôi về đây như con bống nhỏ
Được trở về dòng nước buổi sơ sinh

(Lâm Thị Mỹ Dạ, Tác phẩm văn học được Giải thưởng Nhà nước, NXB Hội Nhà văn 2015, tr.160-163)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra 03 từ ngữ, hình ảnh về quê hương xuất hiện trong khổ thơ (2).

Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ:

Tôi về đây như con bống nhỏ
Được trở về dòng nước buổi sơ sinh

Câu 4. (1,0 điểm) Nêu nội dung hai dòng thơ sau:

Quê hương tôi hiền dịu, mơ màng
Dòng sông xanh nghe bình minh ửng đỏ

Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung văn bản, em hãy trình bày (khoảng 7-10 dòng) suy nghĩ về ý nghĩa của quê hương trong cuộc đời con người.

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận khổ thơ (3) trong văn bản phần Đọc hiểu:

“Tôi bỗng nghe niềm vui vang vọng
Trong cánh tay người gặt hái sớm nay
Đồng quê ơi, nắng gió sờn vai
Vẫn hồn hậu giọng cười trong trẻo”

Câu 2. (4,0 điểm)

Mục tiêu là bản đồ dẫn đường. Tuy nhiên, một bộ phận bạn trẻ hiện nay lại không xác định được mục tiêu của mình.

Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Học sinh cần làm gì để xác định mục tiêu trong học tập và cuộc sống.

* Đáp án:

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1.

– Thể thơ tự do

Câu 2.

– 3 từ ngữ, hình ảnh: đồng quê, lúa, mùa gặt hái, nắng hạn,…

Câu 3.

– Biện pháp tu từ: so sánh (“Tôi về đây như con bống nhỏ”).

–  Tác dụng:

  • Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ.
  • Diễn tả cảm giác bình yên, hạnh phúc, thân thuộc của tác giả khi trở về quê hương.
  • Nhấn mạnh quê hương là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thuở ban đầu.
  • Thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, gắn bó tha thiết của nhà thơ.

Câu 4.

– Nội dung hai câu thơ: khắc họa vẻ đẹp thanh bình, thơ mộng và giàu sức sống của quê hương. Hình ảnh dòng sông xanh trong ánh bình minh gợi một không gian tươi mới, yên ả và tràn đầy sức sống. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm yêu mến, tự hào và gắn bó sâu sắc với quê hương.

Câu 5.

Quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. 

– Đó là nơi ta sinh ra, lớn lên và lưu giữ biết bao kỉ niệm thân thương của tuổi thơ.

– Quê hương nuôi dưỡng con người bằng tình yêu thương gia đình, truyền thống tốt đẹp và những giá trị văn hóa quý báu.

–  Tình yêu quê hương giúp chúng ta biết trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm hơn với hiện tại và tương lai.

– …

→ Vì vậy, mỗi người cần giữ gìn, bảo vệ và góp sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

II. VIẾT

Câu 1.

1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận

2. Thân đoạn:

* Ý nghĩa nội dung chủ đề:

– Niềm vui trước cuộc sống lao động no ấm:

+ Từ ngữ “bỗng nghe”, “vang vọng” diễn tả niềm vui lan tỏa mạnh mẽ.

+ “Cánh tay người gặt hái” gợi hình ảnh người nông dân đang thu hoạch mùa màng.

→ Niềm vui được cảm nhận từ thành quả lao động sau bao ngày vất vả.

–  Vẻ đẹp của con người quê hương:

+ Hình ảnh “nắng gió sờn vai” gợi cuộc sống lao động nhọc nhằn, gian khó. Thể hiện sự chịu thương chịu khó, bền bỉ của người nông dân.

+ “Vẫn hồn hậu giọng cười trong trẻo”: Từ “vẫn” nhấn mạnh phẩm chất tốt đẹp không đổi. Dù trải qua nhiều khó khăn, họ vẫn lạc quan, chân chất, yêu đời.

→ Khổ thơ thể hiện niềm vui, niềm tự hào của tác giả trước vẻ đẹp của con người lao động và quê hương sau những tháng ngày vất vả.

* Đặc sắc nghệ thuật:

+ Nhân hóa, cách xưng hô “Đồng quê ơi” giàu cảm xúc.

+ Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi.

+ Ngôn ngữ giàu sức gợi.

3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận

Câu 2.

I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận

II. Thân bài:

1. Giải thích:

– Mục tiêu là cái đích, là kết quả mà chúng ta mong muốn đạt được trong một khoảng thời gian nhất định.

2. Phân tích, chứng minh:

–  Nhiều bạn học sinh hiện nay đang rơi vào trạng thái “sống mòn”, học tập một cách đối phó, thụ động theo sự sắp đặt của cha mẹ, hoặc lạc lối trước các xu hướng trên mạng xã hội mà không biết mình thực sự muốn gì.

– Học sinh cần làm gì để xác định mục tiêu?

+ Thấu hiểu bản thân: Học sinh cần chủ động nhìn nhận lại chính mình. Chỉ khi hiểu rõ năng lực và mong muốn của bản thân, mục tiêu đặt ra mới thực tế và không bị viển vông.

+ Mục tiêu không được chung chung mà phải cụ thể và đo lường được.

+ Chia nhỏ mục tiêu và lập kế hoạch hành động: cần chia nhỏ nó ra thành từng chặng (theo tuần, theo tháng). Mục tiêu phải đi đôi với hành động cụ thể.

+ Tìm kiếm sự tham vấn từ người đi trước: chủ động trò chuyện, xin lời khuyên từ thầy cô, cha mẹ hay các anh chị đi trước sẽ giúp các bạn có cái nhìn khách quan, tránh đặt mục tiêu sai lệch.

HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp

3. Bàn luận mở rộng

– Khi xác định được mục tiêu, học sinh sẽ có động lực tự học tự thân mạnh mẽ, không còn cảm thấy áp lực hay chán nản. Mục tiêu giống như ngọn hải đăng giúp ta kiên cường vượt qua những thất bại tạm thời.

– Tránh việc đặt mục tiêu quá cao so với năng lực dẫn đến khủng hoảng, áp lực.

– Mục tiêu không phải là những con số cố định, cứng nhắc. Trên hành trình phát triển, học sinh cần biết linh hoạt điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang