Đề thi vào lớp 10 chuyên Văn THPT chuyên Phan Bội Châu Nghệ An năm 2025-2026 (Có đáp án)
* Đề thi:SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT CHUYÊN PHAN BỘI CHÂU I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: LỌ LEM XÓM CỦI (Trích) (Trước mặt đoàn: Cắm ở vôi bố trong ngôi nhà gỗ cỡ don bơ, bia rỉm. Trong gian, trên giẻ vắt gương mặt một cô bé nhỏ nhắn, nghèo nàn hơn, gầy còm. Cô bé ấy là Mẹ, không khó để lấy bóc chân dụng thứ hai nhiều từ một nụ cười. Trong các cỗ mai, có một ngôi lạ, cỗ rực màu của con. Mai có chiếc đĩa bạc, bộ tống lực một bơ tuổi, có đồng chì. “Tặng con gái Nguyễn Cấm”. Cỗ xoay theo điệu nhạc. Bố về muộn, ăn cơm vẫn trầm tư nhìn vào bậc tranh. Bố nói đã xin cho Cẩm vào Lớp hóa học ba lê. Giảng đường những hệt lên cao gương mặt. Vôi lấp. Cẩm theo cô giáo vào trong một cỗ xe rất tốt và nhanh chóng. –) Đất thủ măng bướm, áo ngủ có chữ cái nhằm Cẩm là chuyên từng động tác uyển chuyển. Cô tốt lên: “Cố đó nghe kể nhưng cô không ngỡ em có thể làm mọi thứ tốt đến thế! Tiệp tục nào! Dĩ chẩn phái thành hình bản nguyệt, luôn duỗi thẳng chân và mũi chân, mà ngược vươn vai, và hạ thấp…” Cẩm như cảm nhận động tác nhảy luyện không gian kinh ngạc. Cô đưa tay ra hiệu Cẩm dừng lại rồi chụp một chiếc đĩa khác truy tìm. Bố Cẩm chỉ cho chiếc đĩa trên bàn Le beau Danube blue (2) mèn thuộc ngăn lớn. Cẩm xoay nững nướu dấu tiễn thật nhẹ, đôi chân như bay. Cẩm không còn nhìn thấy gì, trước mắt chỉ có dòng sông mênh mang xanh thẳm. Dòng sông đưa cô đi mãi đến bến bờ hạnh phúc, nơi đó có nhiều cây cô cùng mẹ liên tưởng được tuyết đổ. “Tiếng vỗ tay vỡ tan khắp đêm. Cẩm lui vào trong, cô chợt nghĩ đến mẹ. “Năm ấy con người tuổi hai mươi hai tuổi, mẹ biết không, không còn mẹ bên cạnh, con nhìn thế giới bằng bốn đêm. Một lần nữa mẹ muốn biết biến đổi của mẹ, con chợt nhận ra rằng mẹ đã đi xa nhưng nhất định định con phải thực hiện ước mơ của mẹ…”. Môi bấn bên bờ biển Đầm Tư Lư lúc nào, cô duỗi dài một nụ cười. “Mai mình về thôi!” Đêm se lạnh, con phó vắng tanh, chỉ còn tiếng rào của những người bán hàng rong đi về. Con vẫn trầm tư nhìn vào bậc tranh. Bố nói đã xin cho Cẩm vào Lớp hóa học ba lê. Giảng đường hệt lên cao gương mặt. Vôi lấp. Cẩm theo cô giáo vào trong một cỗ xe rất tốt và nhanh chóng… Trời hôm nay Sài Gòn mưa to. Một buổi chiều Lọ Lem bước ra cửa sổ. Cả Lọ Lem. Cô rất nhiều. Từ mặt biển tới chân trời. Nước mưa rơi xuống đất. Lọ Lem mỉm cười. “Cuộc sống của người con gái rất may mắn.” Ngày mai trở về. Việc đầu tiên cô sẽ chạy trên con đường bờ thưởng dân cô đi qua, con đường luồn lẩn mấy gốc cây xa xa. Và cứ, mãi là Lọ Lem buộc tóc cuối vai. Cô sẽ trở về nơi cô khu vườn của riêng cô, nơi đó có mọi được nghe tiếng chim của rừng. Tiếng cô cây rì rầm trôi chuyện. Đôi mắt mở to. “Lọ Lem của con đang ngồi ở đâu đó, con của con, con muốn đến nơi đó…”. (Vũ Ngọc Giao, Lọ Lem xóm củi, in Trong một vì sao không bao giờ Quốc gia, NXB Kim Đồng, 2024, tr. 12 – 13) * Chú thích: (1) Vũ Ngọc Giao, tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Giao, sinh năm 1972, hiện sống và viết văn tại thành phố Đà Nẵng. Tác phẩm của chị thể hiện lối viết dung dị, nhẹ nhàng, giàu chất thơ… (2) Le beau Danube blue – Dòng sông Danube xanh, bản waltz của nhà soạn nhạc Johann Strauss II (1825-1899). Câu 1 (1,0 điểm): Xác định ngôi kể của truyện. Câu 2 (1,0 điểm): Chỉ ra câu văn thể hiện thái độ của Cẩm khi nghe tiếng các bạn “xầm xì” về mình. Câu 3 (1,0 điểm): Phân tích tác dụng của phần dẫn trực tiếp trong đoạn văn: “Tiếng vỗ tay vỡ tan khắp đêm. Cẩm lui vào trong, cô chợt nghĩ đến mẹ. “Năm ấy con người tuổi hai mươi hai tuổi, mẹ biết không, không còn mẹ bên cạnh, con nhìn thế giới bằng bốn đêm. Một lần nữa mẹ muốn biết biến đổi của mẹ, con chợt nhận ra rằng mẹ đã đi xa nhưng nhất định định con phải thực hiện ước mơ của mẹ…”. Câu 4 (0,5 điểm): Nhận xét tâm trạng của người bố trong câu: Ông rung rung đến bến bờ chân dung thảo thêm thì. “Con đang thực hiện giấc mơ của em.”. Câu 5 (0,5 điểm): Câu chuyện được kể trong văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về con đường theo đuổi đam mê của giới trẻ (khoảng bảy ngắn gọn). II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm): Cuộc sống mỗi người như một bản nhạc, sẽ chẳng bao giờ hoàn chỉnh nếu chỉ tồn tại nỗi thống khổ mà thiếu vắng nốt trầm, nốt lặng. Bản nhạc cuộc đời mỗi bạn đang viết đã từng có khoảnh khắc lắng lại, suy tư, hoài nghi về những yếu đuối, sai lầm…? Từ câu dẫn trên, hãy viết bài văn bàn về: Tuổi trẻ và những nốt lặng. Câu 2 (4,0 điểm): Văn chương dẫn dắt con người vào những không gian khác nhau, trải nghiệm nhiều cuộc sống để vượt khỏi thế giới chật hẹp của chính mình, hay để nhận thức rõ hơn về thế giới mình đang sống? Qua truyện ngắn Lọ Lem xóm củi (Vũ Ngọc Giao) và quá trình đọc văn của bản thân, em hãy viết bài luận trả lời câu hỏi trên. |
* Đáp án:ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Câu 1 (1,0 điểm): Xác định ngôi kể của truyện. – Ngôi kể: Ngôi kể thứ ba. – Giải thích/Phân tích: Người kể giấu mình, không xưng “tôi”, gọi các nhân vật bằng tên (Cẩm, bố, mẹ) và có thể “biết” mọi điều về các nhân vật, từ suy nghĩ đến hành động. Câu 2 (1,0 điểm): Chỉ ra câu văn thể hiện thái độ của Cẩm khi nghe tiếng các bạn “xầm xì” về mình. – Câu văn thể hiện thái độ của Cẩm:
– Thái độ (Nêu rõ):
Câu 3 (1,0 điểm): Phân tích tác dụng của phần dẫn trực tiếp trong đoạn văn: “Tiếng vỗ tay vỡ tan khắp đêm. Cẩm lui vào trong, cô chợt nghĩ đến mẹ. “Năm ấy con người tuổi hai mươi hai tuổi, mẹ biết không, không còn mẹ bên cạnh, con nhìn thế giới bằng bốn đêm. Một lần nữa mẹ muốn biết biến đổi của mẹ, con chợt nhận ra rằng mẹ đã đi xa nhưng nhất định định con phải thực hiện ước mơ của mẹ…” Phân tích tác dụng:
Câu 4 (0,5 điểm): Nhận xét tâm trạng của người bố trong câu: Ông rung rung đến bến bờ chân dung thảo thêm thì. “Con đang thực hiện giấc mơ của em.” – Nhận xét tâm trạng của người bố:
Câu 5 (0,5 điểm): Câu chuyện được kể trong văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về con đường theo đuổi đam mê của giới trẻ (khoảng bảy ngắn gọn). * Gợi suy nghĩ:
II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm): Đề bài: Cuộc sống mỗi người như một bản nhạc, sẽ chẳng bao giờ hoàn chỉnh nếu chỉ tồn tại nỗi thống khổ mà thiếu vắng nốt trầm, nốt lặng. Bản nhạc cuộc đời mỗi bạn đang viết đã từng có khoảnh khắc lắng lại, suy tư, hoài nghi về những yếu đuối, sai lầm…? Từ câu dẫn trên, hãy viết bài văn bàn về: Tuổi trẻ và những nốt lặng. Yêu cầu về kĩ năng:
Yêu cầu về kiến thức: 1. Giải thích:
2. Biểu hiện của “nốt lặng” trong tuổi trẻ:
3. Ý nghĩa của “nốt lặng” đối với tuổi trẻ:
4. Thái độ của tuổi trẻ trước “nốt lặng”:
5. Bài học nhận thức và hành động: “Nốt lặng” là một phần tất yếu của cuộc sống. Tuổi trẻ cần có tinh thần lạc quan, bản lĩnh, ý chí vươn lên để vượt qua những “nốt lặng” và tạo nên những bản nhạc cuộc đời thật ý nghĩa, đầy màu sắc. Bài văn tham khảo: Nếu cuộc đời là một bản giao hưởng vĩ đại, thì mỗi cá nhân chúng ta là một nốt nhạc riêng biệt, mang trong mình thanh âm độc đáo. Bản giao hưởng ấy không chỉ có những nốt thăng hoa rộn rã của niềm vui, thành công, mà còn có những nốt trầm sâu lắng, những khoảng lặng cần thiết để tạo nên chiều sâu, độ vang vọng. Như câu nói đầy suy tư: “Cuộc sống mỗi người như một bản nhạc, sẽ chẳng bao giờ hoàn chỉnh nếu chỉ tồn tại nỗi thống khổ mà thiếu vắng nốt trầm, nốt lặng.” Đặc biệt với tuổi trẻ – độ tuổi của nhiệt huyết, của những hoài bão lớn lao – những “nốt lặng” lại càng mang ý nghĩa đặc biệt. Chúng không phải là sự dừng lại, thất bại, mà là những khoảnh khắc lắng lại, suy tư, hoài nghi về những yếu đuối, sai lầm, là nhịp trầm để bản hùng ca tuổi trẻ thêm vang vọng, thêm trọn vẹn. 1. “Nốt lặng” trong cuộc đời mỗi người, đặc biệt là tuổi trẻ. Trong âm nhạc, nốt lặng là kí hiệu chỉ khoảng thời gian nghỉ ngơi, không có âm thanh nhưng vẫn duy trì nhịp điệu tổng thể của bản nhạc. Áp vào cuộc đời, “nốt lặng” là những khoảnh khắc con người phải đối diện với sự tĩnh lặng, những khó khăn, thử thách, thậm chí là thất bại, mất mát. Đó là khi ta không còn ở đỉnh cao của sự huyên náo, sôi động, mà buộc phải quay vào bên trong, đối diện với chính mình. Với tuổi trẻ, “nốt lặng” không chỉ là những trắc trở khách quan từ bên ngoài mà còn là những rung động, băn khoăn nội tâm. Đó có thể là: Sự thất bại: Điểm số không như mong muốn, dự án dang dở, một mục tiêu không đạt được. Những thất bại này thường đi kèm với cảm giác hụt hẫng, chán nản, thậm chí là muốn buông xuôi. Hoài nghi về bản thân: Giữa bộn bề thông tin và áp lực thành công từ xã hội, tuổi trẻ dễ dàng rơi vào trạng thái tự vấn: “Mình có đủ năng lực không?”, “Con đường mình chọn có đúng không?”, “Mình là ai giữa thế giới rộng lớn này?”. Những hoài nghi này, dù khó khăn, lại là tín hiệu cho sự trưởng thành. Những thử thách cá nhân: Là lúc đối mặt với những biến cố trong gia đình, trong các mối quan hệ, hay những vấn đề về sức khỏe tinh thần. Những gánh nặng này buộc tuổi trẻ phải dừng lại, nhìn nhận cuộc sống một cách nghiêm túc hơn. Khoảng thời gian cần sự tĩnh lặng: Giữa guồng quay hối hả của học tập, công việc, có những lúc tuổi trẻ cần tự cho mình một khoảng lặng để “sạc lại năng lượng”, để chiêm nghiệm, định hình lại mục tiêu và giá trị sống. Đó là thời gian cần thiết để tránh đi những bước vội vã, sai lầm. Những “nốt lặng” ấy, dù mang gam màu trầm, lại là một phần không thể thiếu, định hình nên bản sắc của mỗi cá nhân. Không có những khoảng nghỉ, những bản nhạc sẽ trở nên đơn điệu, ồn ào và thiếu đi sự hài hòa. Tương tự, một tuổi trẻ chỉ toàn những nốt thăng mà không có nốt trầm, nốt lặng sẽ là một tuổi trẻ thiếu chiều sâu, thiếu trải nghiệm và dễ vỡ. 2. Giá trị của “nốt lặng” đối với sự trưởng thành của tuổi trẻ. Nếu nhìn nhận đúng đắn, những “nốt lặng” không phải là trở ngại mà là những bài học đắt giá, là chất xúc tác mạnh mẽ cho sự trưởng thành của tuổi trẻ. “Nốt lặng” là cơ hội để chiêm nghiệm, tự vấn và tái tạo năng lượng: Trong cuộc sống vội vã, tuổi trẻ thường chạy theo những mục tiêu bên ngoài mà ít khi có thời gian quay vào bên trong. “Nốt lặng” buộc ta phải dừng lại, nhìn nhận lại bản thân: mình đã đi qua những đâu, mình đã đạt được gì, mình còn thiếu sót điều gì. Sự tĩnh lặng này giúp ta nhìn rõ hơn những ưu điểm, khuyết điểm, từ đó có những điều chỉnh cần thiết. Giống như một vận động viên cần nghỉ ngơi sau những giờ luyện tập cường độ cao, tuổi trẻ cũng cần những “nốt lặng” để tái tạo năng lượng, xoa dịu những vết thương, và lấy lại tinh thần. Sau cơn mưa trời lại sáng, sau những khoảng trầm, tuổi trẻ sẽ bừng tỉnh với một sức sống mới, một tầm nhìn mới mẻ hơn. Ví dụ: Khi đối mặt với một kì thi không đạt kết quả, thay vì chìm đắm trong thất vọng, một người trẻ biết biến đó thành “nốt lặng” để suy tư: “Mình đã học chưa đúng cách? Mình đã chủ quan ở đâu?”. Từ đó, họ rút ra kinh nghiệm, thay đổi phương pháp học tập, và vươn lên mạnh mẽ hơn trong những kì thi sau. “Nốt lặng” rèn luyện ý chí, bản lĩnh và khả năng vượt khó: Không ai trưởng thành mà không trải qua thử thách. Chính những “nốt lặng” là môi trường khắc nghiệt nhất để tôi luyện ý chí, rèn dũa bản lĩnh của tuổi trẻ. Khi đối diện với khó khăn, con người buộc phải tư duy, tìm kiếm giải pháp, và vượt qua giới hạn của bản thân. Mỗi lần vượt qua một “nốt lặng” là một lần tuổi trẻ được “nâng cấp”, trở nên kiên cường, dũng cảm và trưởng thành hơn. Họ học được cách đứng dậy sau vấp ngã, cách chấp nhận thực tế và tìm kiếm cơ hội trong khó khăn. Điều này thể hiện rõ qua hình ảnh của nhân vật Cẩm trong truyện Lọ Lem xóm cũ của Vũ Ngọc Giao. Cô bé không chỉ đối diện với khó khăn về hoàn cảnh (gia đình nghèo, không còn mẹ bên cạnh) mà còn với những thử thách trong việc luyện tập ba lê. Những khoảng lặng của sự cô đơn, của nỗi nhớ mẹ, của sự tự vấn liệu mình có làm được không, không khiến Cẩm gục ngã. Ngược lại, chúng trở thành động lực để cô bé kiên trì, nỗ lực hơn, biến “nốt lặng” thành nhịp đập của khát khao, để rồi những động tác của cô uyển chuyển, dẻo dai và đầy cảm xúc hơn. Chính những “nốt lặng” ấy đã làm nên một “Lọ Lem” đầy bản lĩnh và tài năng. “Nốt lặng” giúp tuổi trẻ biết trân trọng giá trị của thành công và hạnh phúc: Nếu không có bóng tối, ta sẽ không biết trân trọng ánh sáng. Nếu không có những “nốt trầm”, những “nốt thăng” sẽ trở nên vô vị. Những “nốt lặng” trong cuộc sống giúp tuổi trẻ hiểu được giá trị thực sự của thành công, của niềm vui, của hạnh phúc. Khi đã nếm trải mùi vị của thất bại, của khó khăn, tuổi trẻ sẽ biết trân trọng những gì mình đang có, biết ơn những sự giúp đỡ, và nỗ lực hơn để giữ vững những thành quả đã đạt được. Họ học được cách sống chậm lại, biết ơn những điều giản dị và tìm thấy hạnh phúc trong những khoảnh khắc nhỏ bé. Sự trân trọng ấy tạo nên một tuổi trẻ có chiều sâu, biết suy nghĩ chín chắn và sống có trách nhiệm hơn. 3. Thái độ của tuổi trẻ trước “những nốt lặng”. Nhận thức được ý nghĩa của “nốt lặng”, tuổi trẻ cần có thái độ đúng đắn để biến chúng thành những trải nghiệm quý giá, thay vì để chúng nhấn chìm. Chủ động đối diện và chấp nhận: Thay vì né tránh hay chối bỏ những khó khăn, thất bại, tuổi trẻ cần dũng cảm đối diện với chúng. Hãy xem “nốt lặng” như một phần tất yếu của cuộc sống, một thử thách mà ai cũng phải trải qua. Chấp nhận không có nghĩa là buông xuôi, mà là chấp nhận thực tế để từ đó tìm cách vượt qua. Câu nói “Thất bại là mẹ của thành công” không phải là một khẩu hiệu sáo rỗng mà là triết lí sống của những người đã biết biến “nốt lặng” thành bài học. Biến “nốt lặng” thành khoảng thời gian học hỏi và phát triển: Hãy tận dụng những khoảnh khắc tĩnh lặng để nhìn nhận, đánh giá lại bản thân, học hỏi từ sai lầm, tìm kiếm những giải pháp mới. Đầu tư vào việc học hỏi kĩ năng mới, đọc sách, rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần. Biến thời gian nghỉ ngơi thành thời gian để “sạc pin” và nâng cấp bản thân. Tìm kiếm sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè, thầy cô hoặc những người có kinh nghiệm. Chia sẻ những khó khăn không phải là yếu đuối mà là một cách để tìm kiếm ánh sáng và nhận được những lời khuyên hữu ích. Luôn giữ vững tinh thần lạc quan và niềm tin: Dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, tuổi trẻ cũng cần giữ vững niềm tin vào bản thân và vào tương lai. Lạc quan không phải là ảo tưởng mà là thái độ tích cực để nhìn thấy cơ hội trong thách thức. Hãy nhớ rằng, mọi “nốt lặng” đều có giới hạn. Sau cơn bão tố, trời sẽ lại quang. Sau những khó khăn, thành công sẽ đến. Như bản nhạc của cuộc đời, chỉ cần giữ vững nhịp điệu và niềm tin vào bản thân, tuổi trẻ sẽ vượt qua mọi “nốt lặng” để viết tiếp những chương rực rỡ hơn. Tóm lại, “những nốt lặng” không phải là những khoảng trống vô nghĩa hay dấu hiệu của sự thất bại trong bản nhạc cuộc đời tuổi trẻ. Ngược lại, chúng là những nốt trầm cần thiết, những khoảnh khắc tĩnh lặng quý giá để tuổi trẻ chiêm nghiệm, tự vấn, rèn luyện bản lĩnh và trưởng thành. Cuộc đời chỉ thực sự trọn vẹn khi có đủ những nốt thăng, nốt trầm, những khoảng lặng và những nhịp điệu sôi động. Hãy đón nhận “những nốt lặng” bằng một thái độ tích cực, dũng cảm đối diện và biến chúng thành cơ hội để học hỏi, phát triển bản thân. Bởi lẽ, chính từ những khoảng lặng ấy, tuổi trẻ sẽ tìm thấy sức mạnh nội tại, định hình bản sắc, và kiến tạo nên một bản hùng ca cuộc đời đầy chiều sâu, ý nghĩa và vang vọng mãi về sau. Để rồi, khi nhìn lại, mỗi người trẻ sẽ tự hào rằng bản nhạc của mình không chỉ rực rỡ bởi những nốt thăng hoa mà còn sâu sắc bởi những nốt trầm, những khoảng lặng đã làm nên một bức tranh hoàn chỉnh và đáng nhớ. Câu 2 (4,0 điểm): Đề bài: Văn chương dẫn dắt con người vào những không gian khác nhau, trải nghiệm nhiều cuộc sống để vượt khỏi thế giới chật hẹp của chính mình, hay để nhận thức rõ hơn về thế giới mình đang sống? Qua truyện ngắn Lọ Lem xóm củi (Vũ Ngọc Giao) và quá trình đọc văn của bản thân, em hãy viết bài luận trả lời câu hỏi trên. Yêu cầu về kĩ năng:
* Yêu cầu về kiến thức: I. Mở bài:
II. Thân bài: 1. Giải thích và làm rõ vai trò của văn chương (tổng quan): Văn chương mở ra những không gian khác, trải nghiệm nhiều cuộc sống, vượt khỏi thế giới chật hẹp của chính mình: Không gian đa chiều: Văn chương là cánh cửa đưa ta đến những vùng đất xa lạ, những nền văn hóa khác biệt, những thời đại đã qua (lịch sử) hoặc những thế giới tưởng tượng (viễn tưởng, thần thoại). Trải nghiệm cuộc sống đa dạng: Qua văn chương, ta được sống cuộc đời của nhân vật, trải nghiệm những cung bậc cảm xúc (niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, đau khổ), những số phận (người hùng, người bình thường, người bất hạnh), những tư tưởng lớn (lòng yêu nước, tình người, ước mơ…). Vượt thoát giới hạn cá nhân: Đọc văn giúp ta không còn bị bó hẹp trong không gian, thời gian, kinh nghiệm cá nhân mà được mở rộng tầm nhìn, tích lũy vốn sống, vốn hiểu biết về nhân loại. Ví dụ chung: Các tác phẩm về lịch sử (ví dụ: Hoàng Lê nhất thống chí), về thế giới cổ tích, thần thoại, hoặc những tác phẩm tái hiện cuộc sống ở những vùng miền xa xôi. Văn chương giúp con người nhận thức rõ hơn về thế giới mình đang sống: Phản ánh hiện thực: Văn chương là tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội, con người trong những bối cảnh lịch sử, văn hóa cụ thể. Nó giúp ta nhìn rõ hơn những vấn đề, những bất công, những vẻ đẹp tiềm ẩn trong cuộc sống. Lý giải cuộc sống: Văn chương lí giải những hiện tượng, vấn đề xã hội, những quan niệm đạo đức, triết lí nhân sinh, giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn bản chất của cuộc sống và con người. Khơi gợi sự đồng cảm, thức tỉnh: Khi đọc về những số phận, những vấn đề gần gũi, người đọc dễ dàng đồng cảm, tự vấn, từ đó thức tỉnh ý thức trách nhiệm với cộng đồng và với chính mình. 2. Phân tích truyện Lọ Lem xóm củi để làm rõ vấn đề: Truyện Lọ Lem xóm củi đưa người đọc vào một thế giới mới (không gian khác, trải nghiệm mới): Thế giới của đam mê và nghệ thuật: Độc giả được dẫn vào không gian của vũ điệu ba lê, nơi có những động tác uyển chuyển, những bước nhảy mê hoặc, những bản nhạc như “Le beau Danube blue”. Đây là một thế giới khác hẳn cuộc sống thường ngày của Cẩm. Thế giới nội tâm của Cẩm: Truyện mở ra thế giới tâm hồn trong trẻo, giàu ước mơ, kiên cường của Cẩm, cùng những giằng xé nội tâm (nỗi nhớ mẹ, sự quyết tâm thực hiện ước mơ). Người đọc được “sống” cùng những cảm xúc, suy nghĩ của một cô bé đang lớn và theo đuổi đam mê. Không gian cổ tích hiện đại: Mặc dù mang tên “Lọ Lem”, truyện không phải là cổ tích đơn thuần mà là một câu chuyện hiện đại về ước mơ, nỗ lực, và sự vươn lên của một “Lọ Lem” thời hiện đại. Không gian gia đình: Mở ra không gian gia đình nhỏ bé, ấm cúng nhưng chất chứa nhiều yêu thương (tình cảm bố dành cho con). (Trích dẫn, phân tích các chi tiết tiêu biểu: “Dòng sông đưa cô đi mãi đến bến bờ hạnh phúc”, những miêu tả về vũ điệu ba lê, suy nghĩ của Cẩm về mẹ, v.v.). Truyện Lọ Lem xóm củi giúp nhận thức rõ hơn về thế giới mình đang sống: Về vẻ đẹp của sự kiên trì và đam mê: Câu chuyện khẳng định giá trị của việc theo đuổi đam mê đến cùng, sự nỗ lực vượt khó để đạt được ước mơ (như Cẩm). Điều này nhắc nhở người đọc về ý chí, nghị lực trong cuộc sống. Về vai trò của gia đình: Ca ngợi tình yêu thương, sự hy sinh và ủng hộ của gia đình (người bố) là bệ phóng quan trọng cho sự phát triển của mỗi cá nhân. Về sức mạnh của ước mơ: Đề cao vai trò của ước mơ, niềm tin trong việc định hướng và tạo động lực cho cuộc sống. Nó cho thấy, dù xuất thân có khó khăn, ước mơ vẫn là nguồn sức mạnh vô hạn. Về hiện thực đời sống: Truyện phản ánh một phần hiện thực về cuộc sống của những người trẻ với những khó khăn, nhưng cũng đầy tiềm năng và nghị lực để vươn lên. (Trích dẫn, phân tích các chi tiết tiêu biểu: hình ảnh người bố, những khó khăn của Cẩm, câu nói “Con đang thực hiện giấc mơ của em”). 3. Mở rộng qua quá trình đọc văn của bản thân: Chọn 1-2 tác phẩm tiêu biểu (khác Lọ Lem xóm củi): Ví dụ về văn chương mở ra thế giới khác:
Ví dụ về văn chương giúp nhận thức về thế giới đang sống:
Khẳng định chung: Các tác phẩm văn học đều có chung một sứ mệnh là vừa đưa người đọc đến những chân trời mới mẻ của tư tưởng, cảm xúc, vừa giúp họ soi chiếu lại bản thân, hiểu rõ hơn về cuộc sống đang diễn ra. III. Kết bài: Khẳng định lại vai trò to lớn của văn chương: Văn chương là người bạn đồng hành, là hành trang quý giá giúp con người khám phá thế giới rộng lớn và hiểu sâu sắc hơn về chính mình, về cuộc đời. Lời nhắn nhủ: Hãy đọc và cảm nhận văn chương bằng cả trái tim và khối óc để làm giàu thêm tâm hồn, mở rộng tri thức và sống có ý nghĩa hơn. Bài văn tham khảo: Trong dòng chảy bất tận của lịch sử văn minh nhân loại, nếu khoa học kĩ thuật là đôi cánh giúp con người vươn tới những đỉnh cao tri thức vật chất, thì văn chương, với tư cách là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ, lại là dòng suối mát lành tưới tắm tâm hồn, là người dẫn đường thầm lặng nhưng diệu kì. Có lẽ, không một ai trong chúng ta, dù ít hay nhiều, lại chưa từng đắm mình trong thế giới do văn chương kiến tạo. Câu hỏi “Văn chương dẫn dắt con người vào những không gian khác nhau, trải nghiệm nhiều cuộc sống để vượt khỏi thế giới chật hẹp của chính mình, hay để nhận thức rõ hơn về thế giới mình đang sống?” không chỉ là một vấn đề lí luận khô khan mà còn chạm đến căn nguyên của sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân trong dòng đời. Đó là một sự tổng hòa của hai sứ mệnh cao cả: vừa mở rộng biên độ trải nghiệm, vừa đào sâu nhận thức về bản thân và vũ trụ xung quanh, để rồi từ đó, văn chương trở thành ngọn hải đăng soi rọi con đường khám phá chân lí và hoàn thiện nhân cách con người. Từ những trang sách cổ tích huyền ảo đến những áng văn hiện thực trần trụi, từ Lọ Lem xóm củi của Vũ Ngọc Giao đến vô vàn tác phẩm kinh điển khác, ta sẽ cùng chiêm nghiệm hành trình kì diệu mà văn chương kiến tạo cho tâm hồn. 1. Văn chương: Cánh cửa thần kì mở ra vô vàn không gian và trải nghiệm, vượt thoát thế giới chật hẹp của cá nhân. Con người sinh ra với những giới hạn cố hữu về không gian và thời gian. Chúng ta bị trói buộc bởi tấm thân vật lí, bởi địa lí, bởi một khoảng đời hữu hạn. Thế nhưng, khát khao được khám phá, được sống muôn vàn cuộc đời, được hiểu biết về những điều nằm ngoài tầm với lại luôn cháy bỏng. Chính văn chương đã đáp ứng khát vọng ấy, trao cho ta chìa khóa để mở ra những cánh cửa thần kì, dẫn lối tâm hồn vào những miền đất lạ, những thời đại xa xôi, những cung bậc cảm xúc chưa từng nếm trải. Trước hết, văn chương đưa ta du hành qua không gian và thời gian. Không cần tấm vé máy bay, không cần cỗ máy thời gian, ta vẫn có thể băng qua hàng nghìn năm lịch sử, đặt chân đến những nền văn minh cổ đại, chứng kiến những sự kiện hào hùng hay bi tráng. Từng trang sử thi Odyssey của Homer dẫn ta phiêu lưu cùng người anh hùng Odysseus trên hành trình trở về quê hương đầy gian nan, vượt qua vùng đất của những Nữ thần cám dỗ, những quái vật biển khơi hung tợn. Hay như với Hoàng Lê nhất thống chí, ta như sống lại không khí sục sôi của nghĩa quân Tây Sơn, chứng kiến tài thao lược của vua Quang Trung, cảm nhận rõ rệt sự hỗn loạn của triều đình Lê – Trịnh cuối thế kỷ XVIII. Văn chương không chỉ đơn thuần ghi chép sự kiện mà còn tái tạo lại bối cảnh, thổi hồn vào nhân vật, khiến những điều xa xưa trở nên sống động, gần gũi. Thậm chí, văn chương còn mở ra những không gian siêu thực, giả tưởng, nơi trí tưởng tượng được bay bổng không giới hạn. Thế giới phù thủy huyền bí trong Harry Potter của J.K. Rowling hay hành tinh Pandora hùng vĩ trong Avatar (dù là điện ảnh nhưng dựa trên ý tưởng văn học) là minh chứng cho khả năng kiến tạo vũ trụ của văn chương, giúp con người tạm quên đi thực tại, đắm chìm vào những giấc mơ phiêu lưu. Tiếp đến, văn chương cho phép ta trải nghiệm vô vàn cuộc đời khác nhau. Mỗi nhân vật trong tác phẩm văn học là một mảnh hồn được nhào nặn từ tinh hoa của hiện thực và trí tưởng tượng, mang theo những số phận, những bi kịch hay hạnh phúc, những triết lí sống riêng. Đọc văn là ta đang “sống ké”, sống cùng những buồn vui, sướng khổ của nhân vật. Ta đồng cảm với thân phận của chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, thấu hiểu nỗi nhục nhã của người nông dân dưới chế độ cũ, sự quằn quại của một người mẹ muốn giữ con trong cơn bão táp của sưu cao thuế nặng. Ta xót xa cho bi kịch của Lão Hạc trong Nam Cao, cảm nhận được tình phụ tử thiêng liêng và lòng tự trọng cuối cùng của một kiếp người cùng khổ. Hay với Cẩm trong Lọ Lem xóm cũ của Vũ Ngọc Giao, ta được sống trong khát khao cháy bỏng với vũ điệu ba lê, được chia sẻ nỗi nhớ mẹ da diết và quyết tâm thực hiện ước mơ của một cô bé nghèo. Qua Cẩm, người đọc không chỉ chứng kiến mà còn hòa mình vào sự kiên trì, nỗ lực không ngừng nghỉ, vào những khoảnh khắc thăng hoa trên sàn tập. Cẩm, dù sống trong “xóm cũ” với bao bộn bề, vẫn có một thế giới nội tâm lấp lánh của nghệ thuật và ước mơ, một thế giới mà văn chương đã mở ra cho cả nhân vật và độc giả. Chính những trải nghiệm “sống” này đã làm giàu thêm cảm xúc, bồi đắp vốn sống tinh thần cho mỗi người, giúp ta vượt khỏi những giới hạn của chính cuộc đời mình để cảm nhận thế giới một cách đa chiều hơn. Cuối cùng, văn chương còn là nơi khơi gợi những cảm xúc thầm kín và tinh tế nhất. Văn chương không chỉ kể chuyện, mà còn chạm vào những sợi dây cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn con người. Ta có thể bật cười sảng khoái trước những tình huống hài hước trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, hay lặng người trước nỗi đau mất mát trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Từng câu chữ, từng hình ảnh được trau chuốt, gọt giũa đã tạo nên một thế giới xúc cảm phong phú, giúp ta giải tỏa những nỗi niềm, tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn. Ví dụ, khi đọc đoạn Cẩm lặng lẽ thực hiện ước mơ của mẹ, hay khoảnh khắc người bố “rung rung đến bến bờ chân dung thảo thêm thì. ‘Con đang thực hiện giấc mơ của em.’”, người đọc không chỉ cảm nhận được tình phụ tử thiêng liêng mà còn được chạm vào khát vọng sống, khát vọng vươn lên của tuổi trẻ. Những cảm xúc này không chỉ dừng lại ở bề nổi mà còn thấm sâu, giúp ta hiểu hơn về bản chất của tình yêu thương, sự hy sinh và niềm tin vào cuộc sống. Chính nhờ sự đa dạng và chiều sâu của cảm xúc mà văn chương mang lại, con người được bồi đắp tâm hồn, trở nên giàu lòng trắc ẩn, biết yêu thương, sẻ chia và sống nhân ái hơn. 2. Văn chương: Tấm gương phản chiếu và ngọn đèn soi sáng, giúp con người nhận thức sâu sắc hơn về thế giới mình đang sống. Bên cạnh vai trò mở rộng thế giới quan, văn chương còn mang sứ mệnh cao cả hơn: giúp con người nhìn nhận, đánh giá và lí giải sâu sắc hơn về thế giới thực tại mà mình đang sống. Nếu những trải nghiệm phiêu lưu là để mở rộng tầm nhìn, thì nhận thức chính là để đào sâu, để thấu hiểu bản chất. Trước hết, văn chương là một tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống. Các nhà văn, bằng tài năng và cái nhìn tinh tường, đã tái hiện lại chân dung xã hội, con người trong từng thời kì lịch sử. Đó có thể là một xã hội đầy rẫy bất công, áp bức, nơi con người bị đẩy vào bước đường cùng như trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan; hoặc là một xã hội đầy rẫy những định kiến, những tư tưởng lạc hậu đã đè nén số phận những người phụ nữ như trong Số đỏ hay Vợ chồng A Phủ. Văn chương không chỉ đơn thuần mô tả mà còn “thức tỉnh” người đọc về những vấn đề nhức nhối đang tồn tại. Chẳng hạn, khi đọc Lão Hạc, ta không chỉ thấy số phận bi thảm của một nông dân nghèo mà còn cảm nhận được sự mục ruỗng của xã hội phong kiến, nơi cái đói cái nghèo đã đẩy con người đến bờ vực của sự tha hóa nhưng vẫn không thể đánh mất nhân phẩm. Những trang văn như những thước phim quay chậm, cho phép ta nhìn rõ những góc khuất, những mâu thuẫn mà đôi khi trong cuộc sống hối hả, ta đã bỏ qua. Hơn thế nữa, văn chương là một ngọn đèn soi sáng những giá trị đạo đức, triết lí nhân sinh. Nó không chỉ tái hiện mà còn phân tích, lí giải bản chất con người, những quan niệm về đạo đức, luân lí, về lẽ sống. Khi đọc Lọ Lem xóm cũ, ta không chỉ thấy hình ảnh một cô bé theo đuổi đam mê mà còn nhận ra giá trị của tình yêu thương gia đình (tình cảm giữa bố và Cẩm), sự kiên trì vượt khó, và sức mạnh của ước mơ. Cẩm không chỉ học múa cho riêng mình mà còn là để thực hiện “ước mơ của mẹ”, điều này nâng tầm ý nghĩa của hành động cá nhân lên thành một hành động có ý nghĩa thiêng liêng, hướng tới người khác. Văn chương giúp ta nhận diện đâu là cái thiện, đâu là cái ác, đâu là chân lí. Nó đặt ra những câu hỏi lớn về lẽ sống, về ý nghĩa của sự tồn tại, về hạnh phúc và khổ đau, buộc người đọc phải suy ngẫm và tìm kiếm câu trả lời cho riêng mình. Những tác phẩm vĩ đại thường mang đến những bài học sâu sắc về lòng nhân ái, về sự bao dung, về giá trị của tự do và công lí, từ đó định hình hệ thống giá trị cho người đọc. Cuối cùng, văn chương khơi gợi sự đồng cảm, thức tỉnh lương tri và ý thức hành động. Khi ta nhìn thấy hình ảnh Cẩm trong Lọ Lem xóm cũ nỗ lực không ngừng nghỉ, ta không chỉ ngưỡng mộ mà còn được truyền cảm hứng, được tiếp thêm động lực để theo đuổi đam mê của chính mình. Những nỗi đau, những bi kịch trong văn chương thường tác động mạnh mẽ đến trái tim người đọc, biến họ từ những người đứng ngoài cuộc trở thành những người đồng cảm, thấu hiểu. Sự đồng cảm này không chỉ dừng lại ở cảm xúc mà còn chuyển hóa thành ý thức trách nhiệm. Chẳng hạn, khi đọc về nỗi đau của những người nông dân trong các tác phẩm văn học hiện thực phê phán, người đọc sẽ nhận ra những bất công xã hội và tự hỏi mình có thể làm gì để thay đổi. Văn chương chính là tiếng chuông cảnh tỉnh, là lời hiệu triệu thầm lặng, thôi thúc con người đứng lên đấu tranh cho cái thiện, cái đẹp, cho công lí, hoặc ít nhất là thay đổi nhận thức, thái độ của bản thân để sống tốt đẹp hơn. Nó không chỉ là sự phản ánh mà còn là sự kiến tạo, định hướng con người đến những giá trị cao cả. 3. Mối quan hệ biện chứng giữa hai vai trò của văn chương và những trải nghiệm đọc văn cá nhân. Hai vai trò “dẫn dắt vào không gian khác” và “nhận thức về thế giới đang sống” của văn chương không tách rời mà có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ lẫn nhau. Chỉ khi được đắm mình vào những không gian lạ lẫm, trải nghiệm những cuộc đời khác biệt, con người mới có đủ tầm nhìn, vốn sống để quay trở lại nhìn nhận, đánh giá thế giới mình đang sống một cách sâu sắc hơn. Ngược lại, chính sự thấu hiểu về hiện thực cuộc sống của mình lại là nền tảng để ta cảm thụ, lí giải những thế giới trong văn chương một cách chân thực và ý nghĩa nhất. Quá trình đọc văn của mỗi cá nhân là một minh chứng sống động cho mối quan hệ này. Với mỗi tác phẩm, mỗi độc giả sẽ có những trải nghiệm riêng, tạo nên một hành trình khám phá không ngừng nghỉ. Khi còn nhỏ, tôi thường đắm chìm vào thế giới cổ tích, những câu chuyện về Tấm Cám, Sọ Dừa, Thạch Sanh… Đó là những không gian huyền ảo, nơi cái thiện luôn chiến thắng cái ác, nơi có ông Bụt bà Tiên. Những câu chuyện ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi bằng những giá trị nhân văn sơ khai nhất, mở ra một thế giới đầy phép màu, đưa tôi thoát khỏi những giới hạn của cuộc sống tuổi thơ. Lớn hơn một chút, khi đọc Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, tôi được cùng Dế Mèn dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đầy thú vị, khám phá thế giới loài vật với những cá tính riêng biệt, những bài học về tình bạn, về sự trưởng thành. Đó là những không gian hoàn toàn khác biệt với thế giới con người, nhưng lại mang đến những bài học sâu sắc về cuộc sống. Khi tiếp xúc với những tác phẩm văn học hiện thực phê phán như Chí Phèo của Nam Cao, tôi không còn chỉ được “du hành” nữa, mà còn phải “nhận thức”. Tác phẩm đưa tôi vào một làng quê Việt Nam những năm 30 thế kỉ XX, nơi đói nghèo, áp bức đã đẩy con người đến bờ vực của sự tha hóa. Tôi không chỉ nhìn thấy bi kịch của Chí Phèo mà còn nhận ra những vấn đề xã hội sâu sắc: sự bức tử nhân tính, sức mạnh tàn phá của cái ác, và cả sự bàng quan, định kiến của cộng đồng. Hay khi đọc Vợ nhặt của Kim Lân, tôi được chứng kiến nạn đói kinh hoàng năm 1945, nhưng đồng thời cũng được cảm nhận một cách sâu sắc vẻ đẹp của tình người, của khát vọng sống mãnh liệt. Những hình ảnh về bữa cơm “chè khoán” đắng chát nhưng ấm áp tình người đã trở thành một biểu tượng mạnh mẽ, giúp tôi nhận thức về giá trị của tình yêu thương, niềm tin và hy vọng ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Gần đây, khi đọc lại Lọ Lem xóm cũ, tôi thấy được cả hai sứ mệnh của văn chương trong cùng một tác phẩm. Không chỉ đưa tôi vào thế giới của vũ điệu ba lê, của khát khao vươn lên, mà còn giúp tôi nhìn nhận lại những giá trị hiện hữu: sự quan trọng của ước mơ, tình yêu thương gia đình, và ý chí kiên cường của tuổi trẻ. Tôi nhận ra rằng, trong cuộc sống của mình, những khó khăn, thử thách cũng giống như những “nốt lặng” trong bản nhạc, chúng không phải là điểm dừng mà là những khoảng nghỉ cần thiết để ta chiêm nghiệm, học hỏi và vươn lên. Đó là lúc văn chương không chỉ “dẫn dắt” mà còn “thức tỉnh” tôi về chính cuộc đời mình. Mỗi tác phẩm văn chương, vì thế, đều là một cuộc đối thoại giữa nhà văn và độc giả. Qua cuộc đối thoại ấy, độc giả không chỉ tiếp nhận kiến thức, cảm xúc mà còn hình thành những nhận thức, quan niệm sống của riêng mình. Văn chương không chỉ là những trang giấy vô tri mà là một thực thể sống động, biến đổi không ngừng trong tâm hồn mỗi người đọc. Tóm lại, văn chương không chỉ đơn thuần là một loại hình nghệ thuật mà còn là một sứ giả vĩ đại của tâm hồn con người. Nó thực hiện sứ mệnh cao cả của mình bằng cách mở ra những cánh cửa thần kì đến vô vàn không gian và cuộc sống khác lạ, giúp con người vượt khỏi sự chật hẹp của kinh nghiệm cá nhân. Đồng thời, văn chương còn là tấm gương phản chiếu, ngọn đèn soi sáng, giúp mỗi chúng ta nhận thức rõ hơn về thế giới mình đang sống, về những giá trị đích thực, về những vấn đề còn tồn tại. Từ những câu chuyện cổ tích đến những kiệt tác hiện thực, từ Lọ Lem xóm cũ đến những áng văn kinh điển khác, văn chương đã và đang miệt mài thực hiện sứ mệnh của mình. Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, khi con người dễ bị cuốn theo những giá trị vật chất, hãy để văn chương là nơi ta tìm về, là chốn trú ẩn của tâm hồn, là người thầy khai sáng. Hãy đọc văn chương bằng cả trái tim và khối óc, để mỗi trang sách không chỉ là những dòng chữ mà còn là một cánh cửa mới, một bài học quý giá. Bởi lẽ, chỉ khi tâm hồn được rộng mở, tri thức được bồi đắp, con người mới thực sự trưởng thành và có thể kiến tạo nên một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn và giàu đẹp hơn. Văn chương mãi mãi là một phần không thể thiếu, là hơi thở, là nhịp đập của sự sống tinh thần con người. |
