Đọc văn bản sau:
THU VỊNH (Vịnh mùa thu)
(Nguyễn Khuyến)
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc(2) lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu(3) hoa năm ngoái(4),
Một tiếng trên không ngỗng nước nào (5)?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào(6).
(Thơ Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 2016, tr.17)
Chú thích:
(1) Thu vịnh: mùa thu làm thơ.
(2) Cần trúc: cây trúc thanh mảnh giống như cần câu nên gọi là cần trúc.
(3) Giậu: hàng rào.
(4) Hoa năm ngoái: hoa giống như hoa năm ngoái. Có người cho rằng câu này Nguyễn Khuyến lấy từ câu thơ: “Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa” (Xuân về lại nở những bông hoa thời trước) trong bài Sơn phòng xuân sự của Sầm Tham.
(5) Ngỗng nước nào: loại ngỗng trời không biết ở xứ sở nào thường bay từng đàn từ các vùng lạnh đền các vùng khí hậu ấm áp để tránh rét.
(6) Ông Đào: ở đây chỉ Đào Uyên Minh, còn gọi là Đào Tiềm (365-427), một nhà thơ nổi tiếng ở Trung Quốc thời Lục Triều. Ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, rồi chán ghét cảnh quan trường thối nát đã treo ấn từ quan, lui về ẩn dật (năm 405). Ông là tác giả của bài thơ “Quy khứ lai từ” (Về đi thôi!) rất nổi tiếng.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? Xác định cách gieo vần của bài thơ.
Câu 2. Nêu nội dung chính của bài thơ.
Câu 3. Chỉ ra những từ ngữ gợi tả bức tranh mùa thu trong bài thơ. Em có nhận xét gì về vẻ đẹp ấy?
Câu 4. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được sử dụng trong hai câu thơ sau:
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?“
Câu 5. Từ ý nghĩa bài thơ, em có suy nghĩ gì về tình cảm của tác giả đối với thiên nhiên?
Câu 6. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ), cảm nghĩ về bài thơ.
* GỢI Ý LÀM BÀI:
Câu 1.
– Thể thơ: Bài thơ Thu vịnh được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
– Cách gieo vần: Bài thơ gieo vần bằng, vần được gieo ở chữ cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (cao – hiu – phủ – vào – nào – Đào).
Câu 2.
– Nội dung chính của bài thơ: Bài thơ vẽ nên một bức tranh mùa thu trong trẻo, tĩnh lặng, đậm chất làng quê Việt Nam, qua đó thể hiện tâm hồn thanh cao, một tình yêu tha thiết của tác giả dành cho thiên nhiên.
Câu 3.
– Những từ ngữ gợi tả bức tranh mùa thu:
- trời thu xanh ngắt
- mấy tầng cao
- cần trúc lơ phơ
- gió hắt hiu
- nước biếc
- tầng khói phủ
- song thưa
- bóng trăng
- hoa năm ngoái
- tiếng ngỗng trên không
– Nhận xét về vẻ đẹp bức tranh mùa thu: Bức tranh mùa thu hiện lên cao rộng, trong trẻo, nhẹ nhàng và tĩnh lặng, mang vẻ đẹp êm đềm, cổ điển, thanh sơ của làng quê Việt Nam. Cảnh thu không rực rỡ mà thấm đượm nét u tịch, trầm lắng, gợi cảm giác yên bình, trầm lắng, rất phù hợp với tâm trạng suy tư của nhà thơ.
Câu 4.
– Biện pháp tu từ: đảo ngữ
+ “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái”
+ “Một tiếng trên không ngỗng nước nào”
Trật tự bình thường:
+ “Hoa năm ngoái mấy chùm (ở) trước giậu”
+ “Ngỗng nước nào (kêu) một tiếng (ở) trên không”
→ Tác dụng:
– Nhấn mạnh số lượng ít ỏi (mấy chùm, một tiếng),
– Làm nổi bật sự thưa vắng, hiu quạnh của cảnh thu.
– Góp phần bộc lộ tâm trạng cô đơn, trầm lắng của nhà thơ.
Câu 5.
– Suy nghĩ về tình cảm của tác giả đối với thiên nhiên: Qua bài thơ, có thể thấy Nguyễn Khuyến là người yêu thiên nhiên sâu sắc, gắn bó với cảnh sắc quê hương bằng một tình cảm tinh tế, trân trọng và chan chứa cảm xúc. Thiên nhiên không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là nơi gửi gắm tâm sự, là chốn để nhà thơ tìm sự an ủi, thanh lọc tâm hồn khi chán ngán cuộc đời quan trường.
– Qua bài thơ Thu vịnh, có thể thấy Nguyễn Khuyến là người yêu thiên nhiên tha thiết, có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm trước những biến chuyển rất nhẹ của đất trời. Thiên nhiên không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là nơi nhà thơ gửi gắm nỗi lòng cô đơn, nỗi buồn thời thế và nhân cách thanh cao của mình.
Câu 6. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ):
Bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến đem đến cho người đọc một cảm nhận rất riêng về mùa thu làng quê Việt Nam. Không rực rỡ, không ồn ào, mùa thu trong thơ ông hiện lên với sắc xanh cao vợi của bầu trời, làn gió hiu hiu lay động cần trúc, làn nước biếc mờ như khói phủ. Không gian ấy tĩnh lặng đến mức chỉ một tiếng ngỗng trời cũng đủ làm xao động cả bức tranh thu. Qua những chi tiết rất nhỏ, Nguyễn Khuyến đã thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết và gắn bó sâu nặng với làng quê. Đặc biệt, hai câu thơ cuối cho thấy sự khiêm nhường và tự ý thức cao của nhà thơ khi tự so mình với bậc tiền nhân Đào Uyên Minh. Thu vịnh không chỉ là bài thơ tả cảnh mà còn là bức chân dung tinh thần của một nhà nho thanh cao, sống lặng lẽ, giữ trọn nhân cách giữa thời cuộc nhiều biến động.








