Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn tỉnh Tây Ninh năm 2026

de-thi-van-tay-ninh-2026

KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2026 – 2027

Môn thi: NGỮ VĂN (không chuyên)
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
Ngày thi: 02 tháng 6 năm 2026

I. ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

BÀ ỐM

Loan tưởng bà nội chỉ bị cảm cúm sơ sơ. Thế mà chiều hôm ấy, Loan đi học về, giật mình thấy mẹ rơm rớm nước mắt báo bố và bác Xuân đã cõng bà đi cấp cứu ở bệnh viện huyện. Suốt đêm, mẹ và Loan ít ngủ, thương bà, lo cho bà.

Hôm sau, bố ở huyện về, báo tin bà đã tỉnh, không có gì đáng ngại nữa. Bà dặn Loan phải chăm học, nhớ cho mái mơ ăn thêm rau (nó thích ăn rau lắm) và nhốt riêng con gà ri ra, kẻo nó hay bị con gà khác bắt nạt, tội nghiệp nó.

Ôi, mới vắng bà có mấy ngày mà đàn gà cứ ngơ ngác cả ra. Bà chăm chúng nó thế cơ nào! Còn Loan thì nhìn vào đâu, sờ vào cái gì cũng thấy thiếu bà. Cái bình vôi ăn trầu của bà kia. Cái chổi bà thường luôn tay quét. Cái rế, cái nồi, cái rổ bát, bao giờ cũng chùi cũng xếp gọn gàng. Đến cây cối ngoài vườn cũng nhớ bà, các ngọn mướp cứ ngóc đầu lên chờ đợi được bàn tay tưới tắm. Cái giường bà nằm mà trống vắng buồn thiu, con cóc ở trong gầm cũng như sốt ruột, cứ nhảy ra rồi lại nhảy vào.

Vì phải đi thi, Loan không lên huyện thăm bà được. Nó chọn đúng mười quả trứng gà tươi nhất, do con gà mái hoa cựa nó đẻ – gửi bố mang đi biếu bà. Nó không quên viết gửi bà mấy chữ:

Bà yêu quý của cháu.

Bà cứ yên tâm chữa bệnh, mẹ cháu mãi làm đồng, cháu tưới vườn và chăm đàn gà đúng như lời bà dặn. Cháu làm bài thi tốt lắm, bà ạ.

Cháu Loan của bà.

Trong thư nó không nói gì về mười quả trứng nó đã gửi biếu bà cả. Nó vốn là đứa trẻ tế nhị.

Hôm ấy đúng ngày chủ nhật, bố đón bà ở bệnh viện huyện về. Bà còn xanh lắm, tay phải chống gậy, nhưng bà cười từ ngoài sân cười vào. Loan chạy ra ôm lấy bà, dụi đầu vào ngực áo bà, khóc òa lên. Bà xoa xoa tóc Loan mắng yêu:

– Bố mày! Bà có chết đâu mà khóc! Nín đi, bà cho quà đây…

Loan nắm lấy tay bà, dắt bà vào giường. Bà bảo bố đưa cho bà cái bị. Bà xếp ra hai quả cam, sáu quả chuối và năm quả trứng gà. Bà bảo:

– Đây bà thưởng cho… Nín đi, nín đi nào!…

Loan ngước nhìn bà, khúc khích cười, nhưng miệng nó cười, mà mắt thì vẫn khóc. Vì nó biết bà đã dành dụm không ăn hết trứng và các thứ quà của nó cùng mọi người gửi biếu bà. Bà ơi, cháu yêu bà, cháu thương bà quá!

(Vũ Tú Nam¹, Bà tôi, in trong Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2019, tr.215 – 217)


¹ Vũ Tú Nam (1929 – 2020) được xem là cây bút tiêu biểu trong làng văn Việt Nam, thành công ở cả hai lĩnh vực, viết cho người lớn và trẻ em. Ông viết cả truyện ngắn, ký và thơ nhưng sở trường là truyện ngắn.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (1,0 điểm) Xác định ngôi kể trong văn bản trên.

Câu 2. (1,0 điểm) Gọi tên và chỉ ra thành phần biệt lập trong câu văn: “Bà dặn Loan phải chăm học, nhớ cho mái mơ ăn thêm rau (nó thích ăn rau lắm) và nhốt riêng con gà ri ra, kẻo nó hay bị con gà khác bắt nạt, tội nghiệp nó”.

Câu 3. (1,0 điểm) Nhân vật Loan trong văn bản nổi bật với những nét tính cách nào?

Câu 4. (1,0 điểm) Em hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân sau khi đọc văn bản trên.

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm):

Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người bà trong văn bản Bà ốm ở phần Đọc – hiểu.

Câu 2. (4,0 điểm):

Em hãy viết một bài văn nghị luận đề xuất giải pháp về vấn đề: Tuổi trẻ học đường cần hành động thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông? 

* HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:

Câu 1. (1,0 điểm):

– Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình.

Câu 2. (1,0 điểm) Gọi tên và chỉ ra thành phần biệt lập trong câu văn

– Thành phần phụ chú: “nó thích ăn rau lắm”.

Câu 3. (1,0 điểm)

– Nhân vật Loan trong văn bản nổi bật với những nét tính cách:

  • Yêu thương, hiếu thảo và gắn bó sâu sắc với bà: lo lắng khi bà ốm, nhớ bà da diết, xúc động khi bà trở về.
  • Chăm chỉ, ngoan ngoãn và có trách nhiệm: làm theo những lời bà dặn, chăm sóc vườn tược và đàn gà.
  • Tế nhị, biết quan tâm người khác: gửi trứng biếu bà nhưng không kể trong thư để bà yên tâm chữa bệnh.
  • Giàu tình cảm, trân trọng tình yêu thương của bà: luôn nghĩ đến bà và trân trọng tình yêu thương của bà dành cho mình.

Câu 4. (1,0 điểm)

– Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân: Hãy luôn yêu thương, kính trọng và quan tâm đến ông bà, người thân khi còn có thể. 

– Lí giải: 

  • Ông bà, người thân là những người luôn yêu thương, chăm sóc và dành cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất. Tuy nhiên, thời gian không chờ đợi ai, tuổi tác và sức khỏe của ông bà ngày càng giảm sút. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương, kính trọng và quan tâm đến ông bà, người thân bằng những hành động cụ thể khi còn có thể.
  • Sự quan tâm chân thành không chỉ mang lại niềm vui, hạnh phúc cho những người thân yêu mà còn giúp chúng ta biết sống nhân ái, có trách nhiệm và trân trọng những giá trị thiêng liêng của gia đình. Bởi thế, đừng để khi mất đi người thân yêu mới cảm thấy tiếc nuối vì đã không yêu thương đủ nhiều.

Câu 1. (2,0 điểm): Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người bà:

* Gợi ý viết đoạn văn:

– Giới thiệu tác phẩm, tác giả: Truyện Bà ốm là sáng tác tiêu biểu của tác giả Vũ Tú Nam.

– Nêu khái quát nội dung và nghệ thuật: Bằng giọng kể nhẹ nhàng, chân thực, giàu cảm xúc cùng những chi tiết đời thường gần gũi, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh người bà giàu đức hi sinh và hết lòng yêu thương con cháu

– Phân tích nhân vật người bà:

+ Trước hết, người bà hiện lên là một người luôn chăm lo, vun vén cho gia đình bằng tất cả tình yêu thương và sự tận tụy. Khi có bà ở nhà, nhà cửa, cây cối, vật nuôi cẩn thận. Những “cái rế, cái nồi, cái rổ bát”, bao giờ cũng chùi cũng xếp gọn gàng. Dù đang nằm viện vẫn nhớ và dặn dò Loan chăm học, lo lắng cho vườn tược, đàn gà ở nhà. Không chỉ yêu thương cháu, bà còn quan tâm đến những con vật nhỏ bé như mái mơ hay con gà ri. Bà ân cần dặn Loan “nhốt riêng con gà ri ra, kẻo nó hay bị con gà khác bắt nạt”. Qua đó, người bà hiện lên với vẻ đẹp của một con người nhân hậu, giàu lòng yêu thương, luôn tận tụy vun vén cho gia đình bằng tất cả sự yêu thương và trách nhiệm.

+ Bên cạnh đó, người bà còn là người luôn lạc quan, yêu đời, hết lòng vì con cháu. Sau những ngày điều trị ở bệnh viện, dù sức khỏe còn yếu, “tay phải chống gậy”, nhưng vẫn “cười từ ngoài sân cười vào” . Thấy cháu nức nở khóc, bà còn dùng lời nói vui vẻ, trìu mến để an ủi: “Bà có chết đâu mà khóc!”. Đặc biệt, Loan nhận ra bà đã “dành dụm không ăn hết trứng và các thứ quà của nó cùng mọi người gửi biếu bà” để mang về cho cháu. Hành động giản dị ấy đã thể hiện tình yêu thương sâu nặng, sự hi sinh thầm lặng và tấm lòng luôn nghĩ cho con cháu của người bà.

– Nêu khái quát đặc sắc nghệ thuật và thông điệp: Thành công của văn bản còn được tạo nên bởi cốt truyện đơn giản nhưng giàu ý nghĩa, cách xây dựng nhân vật gần gũi, chân thực thông qua lời nói, hành động và tình cảm của các nhân vật. Qua đó, tác giả ca ngợi tình bà cháu thiêng liêng, ấm áp và nhắc nhở mỗi người biết trân trọng, yêu thương những người thân yêu, sống có trách nhiệm với gia đình.

– Suy nghĩ sau khi đọc tác phẩm: Khép lại tác phẩm, tôi nhận ra rằng hãy luôn yêu thương, kính trọng và quan tâm đến ông bà, người thân khi còn có thể. Đừng để khi mất đi người thân yêu mới cảm thấy tiếc nuối vì đã không yêu thương đủ nhiều.

Câu 2. (4,0 điểm): Viết một bài văn nghị luận đề xuất giải pháp về vấn đề: Tuổi trẻ học đường cần hành động thế nào để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông? 

* Dàn ý chi tiết:

I. Mở bài:

– Giới thiệu vấn đề: Giao thông có vai trò quan trọng trong đời sống con người và sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, tai nạn giao thông vẫn là vấn đề đáng lo ngại, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản.

– Nêu vấn đề nghị luận: Trước thực trạng ấy, tuổi trẻ học đường cần có những hành động thiết thực để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của bản thân và cộng đồng, góp phần xây dựng môi trường giao thông an toàn, văn minh.

– Nêu tính cấp thiết của vấn đề: Đây không chỉ là trách nhiệm của mỗi học sinh mà còn là yêu cầu cấp bách đối với toàn xã hội.

II. Thân bài:

1. Giải thích vấn đề

“Tai nạn giao thông” là gì?

  • Tai nạn giao thông là những sự cố xảy ra trong quá trình tham gia giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản.

“Giảm thiểu tai nạn giao thông” là gì?

  • Giảm thiểu tai nạn giao thông là hạn chế số vụ tai nạn giao thông và những hậu quả do tai nạn gây ra.

2. Phân tích vấn đề

a. Thực trạng:

  • Tai nạn giao thông vẫn xảy ra thường xuyên ở nhiều địa phương trên cả nước.
  • Mỗi năm có hàng nghìn vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
  • Nhiều người bị thương tật vĩnh viễn hoặc mất đi tính mạng do tai nạn giao thông.
  • Đối tượng gây tai nạn và bị tai nạn ngày càng đa dạng, trong đó có không ít học sinh, thanh thiếu niên.

b. Nguyên nhân:

  • Nhiểu người nhận thức chưa đầy đủ về an toàn giao thông.
  • Một số người có tâm lí chủ quan, coi thường pháp luật.
  • Một số bạn trẻ thích thể hiện bản thân, đua đòi theo bạn bè.
  • Sự quản lí, nhắc nhở của gia đình và nhà trường đôi khi chưa thường xuyên.
  • Công tác tuyên truyền của xã hội có lúc chưa thật sự hiệu quả.

c. Hậu quả:

  • Gây thương tích nghiêm trọng, thậm chí mất mát tính mạng.
  • Ảnh hưởng đến tương lai của các bạn trẻ. Gây đau khổ cho gia đình.
  • Tạo gánh nặng cho xã hội. Gây mất trật tự, an toàn giao thông.

3. Đề xuất giải pháp (trọng tâm).

– Đối với cá nhân mỗi học sinh:

  • Nâng cao nhận thức về an toàn giao thông: Hiểu rằng chấp hành luật giao thông là bảo vệ bản thân và cộng đồng. Tích cực học tập, tìm hiểu Luật Giao thông đường bộ. Tham gia các buổi tuyên truyền, ngoại khóa về an toàn giao thông.
  • Tự giác chấp hành luật giao thông: Đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi tham gia giao thông. Đi đúng làn đường, phần đường quy định. Chấp hành tín hiệu đèn giao thông. Không phóng nhanh, vượt ẩu. Không sử dụng điện thoại khi điều khiển phương tiện. Không điều khiển xe khi chưa đủ tuổi theo quy định.
  • Rèn luyện tinh thần trách nhiệm: Nghiêm khắc tuân thủ an toàn giao thông. Không tham gia đua xe trái phép. Không tụ tập gây cản trở giao thông. Sẵn sàng hỗ trợ người gặp khó khăn khi tham gia giao thông. Xây dựng thói quen ứng xử văn minh, lịch sự trên đường.
  • Tích cực tuyên truyền và lan tỏa ý thức chấp hành an toàn giao thông: Nhắc nhở bạn bè, người thân chấp hành luật giao thông. Tham gia các hoạt động tuyên truyền trong trường học và địa phương. Chia sẻ các thông điệp tích cực về văn hóa giao thông trên mạng xã hội.

– Đối với gia đình, nhà trường và xã hội:

  • Gia đình cần thường xuyên giáo dục, nhắc nhở con em chấp hành nghiêm các quy định khi tham gia giao thông; đồng thời cha mẹ phải là những tấm gương về ý thức và văn hóa giao thông để con cái noi theo.
  • Nhà trường cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giao thông, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng cần thiết để tham gia giao thông an toàn.
  • Các cơ quan chức năng cần xử lí nghiêm những hành vi vi phạm, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành luật giao thông trong cộng đồng.

→ Khi gia đình, nhà trường và xã hội cùng phối hợp chặt chẽ, việc xây dựng môi trường giao thông an toàn, văn minh sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.

4. Bàn luận mở rộng (phản đề/lật ngược vấn đề)

– Phê phán những học sinh thiếu ý thức: Không đội mũ bảo hiểm. Đi xe máy khi chưa đủ tuổi. Đua xe, lạng lách, đánh võng. Coi thường tính mạng của bản thân và người khác → Những hành vi đó cần được ngăn chặn và lên án.

– Phản bác ý kiến trái chiều: một số học sinh cho rằng học sinh còn nhỏ, trách nhiệm giảm thiểu tai nạn giao thông chủ yếu thuộc về người lớn và các cơ quan chức năng → Đây là những quan điểm phiến diện và thiếu trách nhiệm bởi thực tế cho thấy phần lớn các vụ tai nạn giao thông đều xuất phát từ sự chủ quan, thiếu ý thức hoặc vi phạm luật giao thông của con người.

5. Rút ra bài học

– Mỗi học ính cần nhận thức rõ rằng tai nạn giao thông là vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, hạnh phúc của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Việc chấp hành luật giao thông không chỉ là nghĩa vụ công dân mà còn là cách bảo vệ bản thân và những người xung quanh.

– Từ đó, mỗi học sinh cần tự giác chấp hành luật giao thông, rèn luyện ý thức tham gia giao thông văn minh, đồng thời tích cực tuyên truyền, nhắc nhở mọi người cùng thực hiện để góp phần xây dựng môi trường giao thông an toàn, văn minh bằng những hành động nhỏ nhưng thiết thực hằng ngày.

III. Kết bài:

– Khẳng định vấn đề: Giảm thiểu tai nạn giao thông là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó tuổi trẻ học đường giữ vai trò quan trọng.

– Lời kêu gọi: Mỗi học sinh cần nghiêm túc thực hiện các quy định khi tham gia giao thông và tuyên truyền mọi người cùng thực hiện để góp phần xây dựng môi trường giao thông an toàn, văn minh. Thực hiện khẩu hiệu: “An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi nhà”.

– Khẳng định niềm tin: Tôi tin rằng, nếu mỗi học sinh đều nâng cao ý thức, tự giác chấp hành luật giao thông và tích cực lan tỏa những hành vi đẹp khi tham gia giao thông thì số vụ tai nạn giao thông sẽ từng bước được giảm thiểu. Từ đó góp phần xây dựng một môi trường giao thông an toàn, văn minh và một cuộc sống bình yên, hạnh phúc hơn cho mọi người.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang