Phân tích nghệ thuật ước lệ và tượng trưng qua đoạn trích Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)

phan-tich-nghe-thuat-uoc-le-tuong-trung-qua-doan-trich-chi-em-thuy-kieu

Phân tích nghệ thuật ước lệ và tượng trưng qua đoạn trích “Chị em thúy Kiều” (trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Dàn bài chi tiết:

I. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích: Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc; Truyện Kiều là kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” nằm ở phần đầu tác phẩm, giới thiệu vẻ đẹp và tài năng của hai chị em Vân, Kiều.

– Nêu vấn đề cần phân tích: Thành công lớn nhất về nghệ thuật của đoạn trích là việc sử dụng tài tình bút pháp ước lệ tượng trưng. Qua nghệ thuật miêu tả, Nguyễn Du không chỉ khắc họa vẻ đẹp lý tưởng của hai chị em mà còn làm nổi bật vẻ đẹp riêng của từng người, đồng thời gửi gắm những dự cảm về số phận.

II. Thân bài:

1. Giải thích bút pháp ước lệ tượng trưng

– Ước lệ: Là phương thức biểu hiện nghệ thuật mang tính quy ước, khuôn mẫu của văn học cổ.

– Tượng trưng: Thường lấy những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, cao quý (trăng, hoa, mai, tuyết, nước thu, núi xuân) để làm chuẩn mực đo đếm vẻ đẹp của con người.

Mục đích: Không đi vào tả thực chi tiết mà gợi lên cái thần, sự cao quý, hoàn mỹ của nhân vật, đồng thời gửi gắm triết lý về số phận.

2. Phân tích biểu hiện của bút pháp ước lệ tượng trưng

– Ước lệ về vẻ đẹp chung của hai chị em (4 câu đầu)

  • “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”:
    • Mai (vóc dáng thanh cao, mảnh dẻ) và Tuyết (tâm hồn, tinh thần trong trắng, tinh khiết).
    • Sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp hình thể bên ngoài và phẩm chất thanh cao bên trong.
  • “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”: Lời khẳng định mang tính tuyệt đối hóa về sự hoàn hảo.

– Ước lệ về vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân (4 câu tiếp)

  • Chân dung Thúy Vân được gợi tả qua các hình ảnh thiên nhiên ước lệ quen thuộc:
    • “Khuôn trăng đầy đặn”: Khuôn mặt tròn trịa, phúc hậu, sáng trong như ánh trăng rằm.
    • “Nét ngài nở nang”: Lông mày đậm, sắc nét, thanh tú.
    • “Hoa cười mị thắm”: Nụ cười tươi tắn như hoa nở nở rộ.
    • “Đoan trang”: Vẻ đẹp trang nghiêm, đúng mực của người con gái khuê các.
  • Mối quan hệ với thiên nhiên: “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.
    • Nghệ thuật nhân hóa kết hợp ước lệ: Thiên nhiên tự nguyện “thua”, “nhường” trước vẻ đẹp của Vân.
    • => Dự báo số phận: Một cuộc đời bình yên, êm ả, hạnh phúc, hòa hợp với xung quanh.

– Ước lệ về vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà và tài năng của Thúy Kiều (12 câu tiếp)

  • Nguyễn Du không tả toàn diện như Vân mà tập trung vào đôi mắt – cửa sổ tâm hồn:
    • “Làn thu thủy”: Đôi mắt trong sáng, long lanh, dạt dào như làn nước mùa thu.
    • “Nét xuân sơn”: Đôi lông mày thanh tú, mềm mại như dáng núi mùa xuân.
  • Mối quan hệ với thiên nhiên: “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.
    • Từ ngữ mạnh “ghen”, “hờn” thể hiện sự đố kỵ, ghen ghét của tạo hóa trước vẻ đẹp vượt chuẩn của Kiều.
  • “Nghiêng nước nghiêng thành”: Sử dụng điển cố ước lệ thể hiện sức cuốn hút mê hồn, có thể làm nghiêng đổ thành quách, quốc gia.
  • Ước lệ về tài năng: Tả kỹ cái tài để ngầm tôn cái sắc (Cầm, kỳ, thi, họa). Đặc biệt là tài đàn với thiên bạc mệnh tự sáng tác →  Thể hiện một tâm hồn đa sầu đa cảm.

– Dự báo số phận: Sự đố kỵ của thiên nhiên và khúc ca bạc mệnh là điềm báo cho một tương lai đầy sóng gió, trắc trở, “hồng nhan bạc mệnh”.

3. Đánh giá, tổng kết giá trị nghệ thuật

Về nội dung: Bút pháp ước lệ tượng trưng giúp Nguyễn Du:

  • Khắc họa vẻ đẹp lý tưởng, toàn diện của hai chị em.
  • Làm nổi bật vẻ đẹp sắc sảo, tài hoa của Thúy Kiều.
  • Thể hiện sự trân trọng, ngợi ca con người, đặc biệt là người phụ nữ.
  • Gửi gắm những dự báo về số phận nhân vật.

Về nghệ thuật:

  • Tạo nên vẻ đẹp trang trọng, cổ điển cho đoạn thơ.
  • Làm cho ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh và sức gợi.
  • Cho thấy khả năng quan sát và liên tưởng phong phú của Nguyễn Du.
  • Khẳng định tài năng bậc thầy trong nghệ thuật tả người của đại thi hào.

→ Bút pháp ước lệ tượng trưng không chỉ giúp Nguyễn Du “vẽ” nên những bức chân dung tuyệt sắc mà còn cho thấy chiều sâu tư tưởng và tài năng nghệ thuật của ông.

III. Kết bài:

– Khẳng định bút pháp ước lệ tượng trưng là một thành công nghệ thuật nổi bật trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều: tạo nên những bức chân dung tuyệt mỹ bằng ngôn từ.

– Khẳng định tài năng Nguyễn Du: Đoạn trích là minh chứng tiêu biểu cho tài năng sử dụng ngôn ngữ và nghệ thuật tả người bậc thầy của Nguyễn Du, góp phần làm nên sức sống bất diệt của Truyện Kiều trong nền văn học dân tộc.

Bài văn tham khảo:

Bài làm 1:

  • Mở bài:

Nghệ thuật ước lệtượng trưng được xem là một đặc điểm thi pháp của văn học trung đại. Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du sử dụng khá nhiều bút pháp ước lệ tượng trưng. Có điều nhà thơ sử dụng một cách hết sức linh hoạt, sáng tạo nên tránh được sáo mòn, nhàm chán. Không những thế bút pháp ước lệ của Nguyễn Du còn góp phần diễn tả một cách tinh tế, sâu sắc tâm trạng nhân vật. Tài năng ấy được thể hiện rõ ràng qua miêu tả bức chân dung tuyệt sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”.

  • Thân bài:

Ước lệ là biện pháp diễn đạt bằng hình ảnh có tính chất qui ước thường được dùng trong văn chương cổ. Chẳng hạn như, dùng hình ảnh “tuyết rơi” để tả mùa đông, “lá vàng rụng” để chỉ mùa thu, “giọt châu” để chỉ giọt nước mắt, “làn thu thuỷ” để chỉ ánh mắt của người con gái. Tượng trưng là biện pháp diễn đạt cái trừu tượng bằng một hình ảnh cụ thể thường lấy từ cây cỏ, chim muông. Vía như hình ảnh cây trúc tượng trưng cho người quân tử, cây tùng tượng trưng cho nhân cách cứng cỏi, vững vàng, tuyết tượng trưng cho tâm hồn trong sáng,… Nghệ thuật ước lệ và tượng trưng giống nhau ở chỗ cả hai đều là hình ảnh ẩn dụ và khác nhau ở chỗ tượng trưng là một hình ảnh hoàn chỉnh, ước lệ phần nhiều chỉ là một chi tiết của hình tượng.

Hình ảnh ước lệ, tượng trưng là sáng tạo nghệ thuật của mĩ học phong kiến, nó có giá trị thẩm mĩ nhất định. Người xưa dùng hình ảnh cây thông (tùng) bốn mùa có tán lá xanh tươi, quanh năm đứng vững chãi trên dốc núi cheo leo bất chấp bão bùng sương tuyết để tượng trưng cho nhân cách cứng cỏi, có bản lĩnh vững vàng, có khí phách hiên ngang không nghiêng ngả trước uy quyền danh lợi. Hay hình ảnh hoa dưới nhiều dạng: hoa cười, hoa rơi, hoa tàn, hoa xưa,…để miêu tả người đẹp, sắc đẹp, tình yêu nam nữ,… Đó là những sáng tạo nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ.

Phương pháp nghệ thuật cổ không miêu tả hiện thực theo dạng tả chân thực, theo thẩm mĩ văn học cổ dùng hình ảnh ước lệ, tượng trưng đem lại cho lời văn lời thơ trang nhã, bóng bẩy, súc tích. Trong “Chinh phụ ngâm”, tác giả miêu tả cảnh đêm người chinh phụ nhớ chồng, khi là cảnh đêm có sương, có mưa (Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun) khi là cảnh đêm có tuyết rơi (Tuyết tiêu gió thốc ngoài hiên) khi là đêm có trăng, hoa (Trăng dãi nguyệt, nguyệt in một tấm. Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông),…

Tác giả không tả một đêm cụ thể nào của thời gian và không gian xác định mà tả cái đêm “tổng hợp” của bao nhiêu đêm người chinh phụ đã trải qua. Tuy tác giả không vẽ ra trước mắt chúng ta một đêm cụ thể nào nhưng cái cảm giác duy trì các hình ảnh gợi ra cho người đọc là nỗi lòng nhớ chồng đau đáu, thiết tha, thấm thía của người chinh phụ. Song bên cạnh đó ước lệ, tượng trưng được sử dụng một cách sáo mòn, công thức làm cho câu văn, câu thơ rơi vào tình trạng nặng về hình thức, nghèo nàn về nội dung.

Với những hình ảnh ước lệ, tượng trưng quen thuộc nhưng Nguyễn Du đã chọn lọc một cách tài tình miêu tả được những bức chân dung với nhiều vẻ đẹp khác nhau để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Khi tả chị em Thuý Kiều “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” làm hiện lên dáng vẻ của họ thanh tú như cây mai, tâm hồn trong trắng như tuyết. Khi miêu tả bức chân dung của Thuý Vân, Nguyễn Du đã vận dụng thủ pháp ước lệ một cách chặt chẽ:

“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”.

Qua nhiều hình ảnh ước lệ “khuôn trăng”, nét ngài” hay “ngọc”, “mây”, “tuyết” ta không kể hết được tỉ mỉ nhan sắc Thuý Vân nhưng ta biết được nhan sắc ấy rất tuyệt trần. Vẻ đẹp “trang trọng, đầy đặn” “nở nang, đoan trang”, “mây thua, tuyết nhường” luôn tạo cho mọi người xung quanh một tình cảm yêu mến, độ lượng. Vân hiện lên với chân dung một cô gái đoan trang, phúc hậu.

Khi miêu tả bức chân dung của Thuý Kiều, Nguyễn Du nâng thủ pháp ấy lên một bực, đạt đến mức uyên thâm, tuyệt diệu:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc vẫn là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Nguyễn Du vẫn dùng những hình ảnh ước lệ quen thuộc “làn thu thuỷ”, “nét xuân sơn” để chỉ ánh mắt, lông mày. Tuy vậy với những hình ảnh “hoa ghen”, “liễu hờn” nhà thơ đã cho thấy nhan sắc Thuý Kiều thuộc loại nhan sắc độc đáo kì lạ, vượt lên sự bình thường. Vẻ đẹp “sắc sảo”, “mặn mà” kết hợp hình ảnh ước lệ với ngôn ngữ dân gian tạo nên cách diễn đạt giàu sức biểu cảm: Hoa ghen liễu hờn, Mây thua, tuyết nhường.

Vẫn lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp, nhưng ở đây, Nguyễn Du đã phá vỡ nguyên tắc ấy, đưa vẻ đẹp của con người vượt lên trên mọi giới hạn trở thành chuẩn mực cao nhất. Lần đầu tiên trong văn học, với biện pháp ước lệ, thiên tài Nguyễn Du đã tạo bước đột phá trong cấu trúc nghệ thuật, xóa bỏ giới hạn của cái đẹp và làm đảo lộn hoàn toàn quan niệm về cái đẹp của người xưa.

  • Kết bài:

Nghệ thuật ước lệ và tượng trưng là một đặc điểm của nghệ thuật thơ văn cổ. Đó là cách diễn đạt theo quy ước, khuôn mẫu có sẵn làm cho lời thơ, lời văn thêm tao nhã, thâm thuý. Các nhà thơ cổ đặc biệt là Nguyễn Du là người đã có nhiều sáng tạo và đạt thành công lớn trong thủ pháp này trong miêu tả bức chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều.

Bài làm 2:

Phân tích bút pháp ước lệ, tượng trưng trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”

  • Mở bài:

Quan niệm về cái đẹp của người xưa chính là cơ sở thẩm mỹ của tính ước lệ trong văn chương trung đại. Thời trung đại, con người có tinh thần sùng cổ và quan niệm rằng ở người xưa có những lý tưởng thẩm mỹ không thể nào đạt tới. Những gì cao đẹp của người xưa đều đạt đến chuẩn mực, đáng tôn thờ, học hỏi. Vì vậy, nắm bắt cái xưa, phục cổ đã trở thành một thói quen, một khuôn sáo cho nếp nghĩ, cách sống của con người thời trung đại. Tính ước lệ trong văn thơ bắt đầu từ đó. Nguyễn Du với đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” đã vận dụng triệt để sức mạnh của thủ pháp ước lệ, tượng trưng nhằm khắc họa đậm nét bức chân dung tuyệt sắc của hai nhân vật Thúy Kiều và Thúy Vân. Mỗi người một vẻ nhưng cả hai đều mười phân vẹn mười.

  • Thân bài:

Ước lệ là biện pháp sử dụng những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình ảnh thiên nhiên đẹp (trăng, hoa, tuyết) để nói về vẻ đẹp của con người. Bút pháp ước lệ nghiêng về gợi hình ảnh, không miêu tả cụ thể tỉ mỉ và thường được dùng trong văn chương cổ. Ví dụ: “lá vàng”, “hoa cúc” chỉ mùa thu, “giọt châu” chỉ giọt nước mắt, hay “khuôn trăng” chỉ khuôn mặt đẹp của người con gái.

Tượng trưng là biện pháp diễn đạt cái trừu tượng bằng một hình ảnh cụ thể, mang những nét đặc trưng, tiêu biểu của sự vật trong những chuẩn mực tuyệt đối, siêu phàm.Hình ảnh tượng trưng thường lấy từ cây cỏ, chim muông… Ví dụ hình ảnh “cây trúc” tượng trưng cho người quân tử, cây tùng với tán lá xanh tươi, quanh năm đứng vững chãi trên dốc núi cheo leo, bất chấp bão bùng, sương tuyết tượng trưng cho nhân cách cứng cỏi, bản lĩnh vững vàng, hiên ngang, không nghiêng ngả trước uy quyền danh lợi. Còn “tuyết” tượng trưng cho tâm hồn trong sáng…

Ước lệ và tượng trưng giống nhau ở chỗ cả hai đều là hình ảnh ẩn dụ và khác nhau ở chỗ: tượng trưng là một hình ảnh hoàn chỉnh, ước lệ phần nhiều chỉ là một chi tiết của hình tượng.

Hình ảnh ước lệ, tượng trưng là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của mĩ học phong kiến nên nó có giá trị thẩm mĩ nhất định, làm cho lời thơ thêm bóng bẩy, súc tích, tao nhã và thâm thúy. Song, nếu dùng biện pháp này không khéo rất dễ gây sáo mòn, công thức.

Nhưng với đại thi hào Nguyễn Du, thủ pháp ước lệ, tượng trưng được dùng một cách đắc địa, đầy sáng tạo. Từ những hình ảnh quen thuộc, nhà thơ đã có sự chọn lọc tài tình, miêu tả được bức chân dung với nhiều vẻ đẹp khác nhau và để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Đoạn trích là những vần thơ tuyệt bút, là bức tranh con người được vẽ bằng ngôn ngữ Tiếng Việt đạt đến mức hoàn chỉnh. Chỉ bằng 24 câu thơ lục bát, Tố Như đã miêu tả trọn vẹn và hoàn hảo tài năng, sắc đẹp, đức hạnh của chị em Thuý Kiều, Thuý Vân, hai tuyệt thế giai nhân, bằng tất cả tấm lòng cảm mến và sự nâng niu, trân trọng.

Nói đoạn thơ là bức tranh, bởi lẽ ngôn từ trong văn bản không chỉ tác động đến cảm xúc, mà nó còn gợi nên hình ảnh sống động về con người một cách rõ nét. Gấp trang sách lại, người đọc hình dung được Thuý Kiều, Thuý Vân từ dáng vẻ bên ngoài đến tâm hồn bên trong. Trong họa pháp cổ điển, chuẩn mực của nghệ thuật cốt ở cái tinh. Cho nên, nhà họa sĩ thường chú trọng đến cái thần của tác phẩm. Khi vẽ rồng nhất định chú ý đến đôi mắt, vẽ mùa thu nhất thiết phải có lá vàng… Người xưa lấy thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên vượt lên mọi giới hạn, bất biến với thời gia, là cơ sở để con người nghĩ về cái đẹp, nói về cái đẹp.

Nguyễn Du tả Thuý Kiều, Thuý Vân trên cơ sở bút pháp ước lệ cổ điển nhưng được soi chiếu và trình diễn đạt đến độ vi diệu. Chất liệu của nó không phải là màu sắc và âm thanh mà bằng ngôn từ. Qua bàn tay tài hoa của Nguyễn Du ta có cảm giác các con chữ vừa được đánh bóng lại và thổi vào đó sức sống mới. Bốn câu thơ đầu là lời giới thiệu, khái quát chung về hai cô gái đầu lòng của nhà Viên ngoại họ Vương:

“Đầu lòng hai ả tố nga
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười”.

Hình ảnh mang ý nghĩa ước lệ, tượng trưng, kết hợp với phép ẩn dụ: hai nàng có “cốt cách” thanh cao như mai, “tinh thần” trong trắng như tuyết. Miêu tả như thế cho thấy sự nâng niu, quý trọng của nhà thơ với các nhân vật. Họ đẹp một cách lộng lẫy, đẹp “mười phân vẹn mười”. Thật khó để nói được vẻ đẹp riêng của hai ả tố nga nhà họ Vương. Chỉ có thể nói là vẻ đẹp của họ đã đạt đến bực hoàn hảo. Nếu quan niệm đoạn trích là một bức tranh, thì đây là phần nền của hai bức chân dung chị em Thuý Kiều. Chưa tả nhưng hai nàng hiện lên thật nổi bật. Đó là cái tài đặc biệt của Nguyễn Du: giới thiệu nhưng mang yếu tố tả, kể nhưng như vẽ.

Trên cái phong nền ấy đại thi hào lần lượt cho các nhân vật của mình xuất hiện hết sức tự nhiên, đầy thần thái. Sau lời giới thiệu chung, là bức chân dung của Thuý Vân:

“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”.

Vẫn bút pháp ước lệ, kết hợp với hệ thống từ ngữ chọn lọc, Thuý Vân hiện lên với những gì đẹp đẽ nhất, đặc sắc nhất, thiêng liêng nhất của tinh hoa đất trời: “hoa”, “trăng”, “ngọc”, “mây”, “tuyết”. Đó là sự quy tụ của vẻ đẹp trời đất, của thiên nhiên vạn vật. Đó cũng là chuẩn của vẻ đẹp con người cần hướng đến trong thi pháp văn học trung đại. Mỗi câu thơ, là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân. Cử chỉ, dáng đi đứng rất trang trọng, quý phái. Cách xử sự rất đúng mực, đoan trang. Đây là vẻ đẹp toàn bích của một thiếu nữ trong sáng, dịu hiền, không vướng một chút bụi trần.

Tác giả miêu tả khuôn mặt của Thuý Vân đầy đặn, sáng trong như khuôn trăng tròn vành vạnh. Tiếng nói trong như ngọc. Miệng cười tươi như hoa. Tóc mềm bóng mượt đến nỗi “mây thua”. Da trắng làm cho tuyết phải “nhường”. Rõ ràng, ở nàng Vân là cái đẹp phúc hậu, đoan trang, cái đẹp chinh phục được xung quanh.

Với một loạt hình ảnh ước lệ, tượng trưng được sử dụng khi tả Thúy Vân, Nguyễn Du gợi cho ta hình dung rõ từng nét đẹp của nàng từ khuôn mặt tròn trịa, sáng đẹp như mặt trăng, mày ngài đậm, sắc nét, miệng cười tươi như hoa…đến làn da, mái tóc.Tất cả gợi nên vẻ đẹp của một cô gái đoan trang, phúc hậu, dịu dàng, cao quý.

Nhưng nhà họa sĩ hình như không dụng công nhiều trong miêu tả Thuý Vân. Bút lực của ông chủ yếu khắc họa bức chân dung nhân vật Thuý Kiều. Tưởng Thúy Vân là một trang quốc sắc thiên hương không ai sánh kịp nữa, nào ngờ đâu, sau đó Thuý Kiều xuất hiện thì Thuý Vân chỉ làm nền tôn thêm vẻ đẹp của Kiều. Bằng cách tạo dựng tình huống theo kiểu đòn bẫy, Nguyễn Du chứng tỏ mình là bậc thầy trong việc miêu tả nhân vật. Thuý Vân đã đẹp đến mức thiên nhiên cũng nhường bước nhưng Kiều còn đẹp hơn thế:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

Nếu vẻ đẹp của Vân là thuần phác, dịu hiền, đằm thắm, thì Kiều hiện lên với sự sắc sảo, mặn mà hiếm có. Vẻ đẹp này rất đài các, kiêu sa. Nó không thuộc về đời thường, chỉ để dành chiêm ngưỡng, ngước nhìn mà thôi. Khi miêu tả Thuý Kiều, theo tôi tác giả đặc tả đôi mắt. Người ta thường nói : đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn là vì nói đến đôi mắt là nói đến thế giới quan, nhân sinh quan của con người. Mắt đẹp là tự thân mang vẻ đẹp của tâm hồn. Cái thần của bức chân dung Thuý Kiều nằm ở chỗ này. Người đọc Truyện Kiều tinh ý sẽ thấy được, Nguyễn Du không chú ý tả vẻ đẹp hình thức của Thuý Kiều. Ông chỉ dùng hai hình ảnh có giá trị biểu trưng: “làn thu thuỷ, nét xuân sơn”. Mắt nàng Kiều xanh trong như nước mùa thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nét núi mùa xuân. Thế là đủ cho một tuyệt sắc. Trong nhân tướng học Trung Hoa, phàm ai có đôi mắt vậy thì rất đa đoan và nặng tình. Chính “làn thu thủy” ấy đã dự cảm cho số phận nghiệt ngã của nàng Kiều trong suốt 15 năm trời lưu lạc sau này.

Nói vậy, bởi quan sát kĩ chân dung hai chị em Thuý Kiều, ta thấy hình như khi tả Thuý Vân, Nguyễn Du không hề miêu tả đôi mắt. Đây là điểm nhấn quan trọng để thấy dụng ý xây dựng nhân vật, tài năng của nhà thơ. Sách giáo khoa và nhiều tài liệu cho rằng “nét ngài” trong câu tả Thuý Vân “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” là nói đến đôi lông mày đậm, thanh tú như con bướm tằm. Rõ ràng, “ngài” ở đây là người . “Nét ngài nở nang” là muốn nói bề ngoài của Vân đẫy đà, căng tràn sức sống. Điều này phù hợp với quan niệm của cụ Nguyễn Du với thuyết tướng pháp. Sự đầy đặn về ngoại hình của Thuý Vân cũng như định báo trước một cuộc đời mĩ mãn , bằng phẳng: “Phong lưu phú quý ai bì”.

Chính vì điều đó, nên vẻ đẹp của Thuý Kiều không bình thường chút nào, đẹp đến mức “hoa ghen”, “liễu hờn”. Thế thì không cần nói nhiều, người đọc cũng có thể thấy được sự khác biệt trong nét vẽ của cụ Nguyễn Tiên Điền với hai nhân vật chính của thiên truyện bất hủ này.

Miêu tả Thuý Vân với chỉ 4 câu thơ, song nói về Thuý Kiều tác giả dành 12 câu để nói về tài sắc của nàng. Nhà thơ dùng nhiều câu kiến trúc theo lối tiểu đối nhằm khắc họa nhân vật đạt mức độ tới hạn của vẻ đẹp :

“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”.

Các từ ngữ tả Thúy Kiều đã được tuyệt đối hoá: “sắc sảo”, “mặn mà”, “phần hơn”, “ghen”, “hờn”, “đòi một”, “họa hai”, “vốn sẵn”, “pha nghề”, “đủ mùi”, “lầu bậ”c, “ăn đứt”, “bạc mệnh”, “não nhân”. Hình ảnh thơ đối chọi với nhau đã tạo nên nhịp thơ trang trọng, càng tôn thêm vẻ đẹp của nàng Kiều . Nàng không chỉ đẹp về hình thức mà nàng còn hội tụ vẻ đẹp của sự thông minh “vốn sẵn tính trời”, cho nên các môn nghệ thuật : cầm, kì, thi, họa nàng rất sành điệu, điêu luyện “lầu bậc”, “ăn đứt” thiên hạ. Theo tôi, không những thiên nhiên “ghen”, “hờn” mà trước tài năng của nàng loài người cũng khó chấp nhận, Kiều phải lâm vào kiếp đoạn trường như là một điều dễ hiểu. Các cụ xưa đã dạy chẳng sai chút nào:

“Một vừa hai phải ai ơi,
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”.

Chính Nguyễn Du cũng phải thừa nhận sắc, tài sẽ là ngọn roi quất xuống đời Kiều, làm cho nàng bầm dập, đớn đau không tránh khỏi những lụy hệ cuộc đời :

“Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan ,
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc với mình vào trong”.

Thiên lý “bỉ sắc tư phong” như định sẵn, chờ chực để đọa đày, vùi dập Kiều dù rằng nàng là một trang quốc sắc thiên hương, vừa có sắc – tài – tình – mệnh theo quan niệm của Tố Như :

“Có đâu thiên vị người nào.
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai”.

Như vậy, khi tả Thuý Kiều Nguyễn Du không chỉ nói đến nhan sắc khuynh nước khuynh thành, tài hoa trí tuệ, mà còn nói đến trái tim đa sầu đa cảm, tâm hồn vô cùng phong phú của nàng. Chính cung đàn bạc mệnh do Kiều soạn là tiếng lòng của nàng, trong đó có sự thương cảm sâu sắc của nhà thơ làm rung động đến tất cả mọi nhân vật trong truyện, kể cả tên mặt sắt Hồ Tôn Hiến. Dưới ngòi bút thiên tài Tố Như, Kiều càng đẹp bao nhiêu, có tài, có tình bao nhiêu thì số phận nàng càng oan nghiệt bấy nhiêu. Đứng trước chân dung của Thuý Kiều, nhà thơ Chế Lan Viên đã thổn thức xót xa :

“Chạnh thương cô Kiều như cuộc đời dân tộc
Sắc tài sao mà lắm truân chuyên
Bỗng quý Kiều như cuộc đời dân tộc
Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường”.

  • Kết bài:

Miêu tả nhân vật là một trong những biệt tài của Nguyễn Du. Có lẽ ngàn năm sau cũng chưa nói hết cái hay, cái đẹp ngòi bút của đại thi hào. Chúng ta chỉ biết rằng, tài năng của nhà thơ trong việc khắc họa chân dung nhân vật như một giếng nước trong càng khơi càng trào ra những dòng nước mát ngọt ngào. Hy vọng rằng, với những suy nghĩ còn nông cạn trên, bạn đọc sẽ tìm được những điều bổ ích, dẫu rằng nó có thể “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Xem thêm:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang