Ở cả hai đoạn trích, Nguyễn Du đều không miêu tả con người một cách đơn thuần theo kiểu liệt kê ngoại hình. Nhà thơ luôn hướng đến việc từ diện mạo, cử chỉ, hành động mà làm nổi bật tính cách, phẩm chất và số phận nhân vật. Đây chính là nét đặc sắc quan trọng trong nghệ thuật tả người của Nguyễn Du: Tả người mà không dừng ở hình dáng; qua hình dáng để khám phá nội tâm, bản chất bên trong con người. Tuy nhiên, cách thức thực hiện ở Thúy Vân – Thúy Kiều và Mã Giám Sinh lại hoàn toàn khác nhau.
Bút pháp ước lệ, tượng trưng khắc họa vẻ đẹp lí tưởng của Thúy Vân và Thúy Kiều
Khi giới thiệu hai chị em, Nguyễn Du sử dụng hàng loạt hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng:
“Mai cốt cách tuyết tinh thần”
“Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Chỉ bằng một câu thơ, nhà thơ đã nâng vẻ đẹp của hai thiếu nữ lên tầm lí tưởng. “Mai” tượng trưng cho dáng vẻ thanh tú, “tuyết” tượng trưng cho tâm hồn trong trắng, thanh cao. Đặc biệt, Nguyễn Du tả Thúy Vân trước, Thúy Kiều sau, nhưng thực chất là lấy Thúy Vân làm nền để làm nổi bật Thúy Kiều.
Khi miêu tả, Thúy Vân, Nguyễn Du tập trung vào những đường nét đầy đặn, cân đối:
- “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”
- “Hoa cười ngọc thốt đoan trang”
- “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
Các hình ảnh “trăng”, “hoa”, “ngọc”, “mây”, “tuyết” đều là những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ được dùng để so sánh, gợi tả con người. Đáng chú ý nhất là nghệ thuật “mây thua”, “tuyết nhường”. Thiên nhiên không đối đầu, ganh ghét với Thúy Vân mà dường như chịu nhường bước trước vẻ đẹp của nàng. Vì thế, vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, hài hòa với thiên nhiên, tạo cảm giác bình yên, ổn định.
Nguyễn Du không nói trực tiếp “Thúy Vân có số phận bình yên”, nhưng qua cách miêu tả, nhà thơ đã ngầm dự báo một cuộc đời ít sóng gió. Đây là nghệ thuật “tả sắc mà gợi số phận” rất tài tình.
Nếu Thúy Vân được miêu tả bằng những đường nét hài hòa thì Thúy Kiều lại được Nguyễn Du khắc họa bằng những nét sắc sảo, nổi bật và có phần vượt khỏi chuẩn mực hài hòa:
“Thúy Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn”
Hai từ “sắc sảo”, “mặn mà” khẳng định vẻ đẹp của Thúy Kiều có sức cuốn hút, chinh phục lòng người. Đặc biệt cách so sánh “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” là một sáng tạo đặc biệt. Trước vẻ đẹp của Thúy Vân mây phải “thua”, tuyết phải “nhường”. Thiên nhiên nhường nhịn nàng. Nhưng vẻ đẹp của Thúy Kiều đã khiến cho hoa phải “ghen”, liễu phải “hờn”. Thiên nhiên ghen tức, hờn giận, đố kị trước vẻ đẹp của nàng. Sự thay đổi từ “thua – nhường” sang “ghen – hờn” không chỉ làm cho vẻ đẹp của Thúy Kiều nổi bật hơn Thúy Vân mà còn tạo ra một tín hiệu dự báo số phận.
Thúy Kiều đẹp đến mức khiến tạo hóa phải “ghen”, “hờn”; vì vậy, vẻ đẹp ấy dường như chứa sẵn mầm mống của một cuộc đời nhiều bất trắc, khổ đau.
Đặc biệt, Nguyễn Du không dừng ở sắc đẹp. Ông khắc họa tài năng của Thúy Kiều:
“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”
Thúy Kiều không những xinh đẹp mà còn rất tài năng. Những thú tiêu dao vốn chỉ dành cho bậc đàn ông, nàng đều thông thao: biết đánh đàn (cầm); chơi cờ (kig) , vẽ tranh (họa), làm thơ (thi) và ca hát (ngâm). Nhưng Nguyễn Du lại đặt giữa những tài năng ấy một chi tiết đầy ám ảnh: “Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”. Đây là một nghịch lí nghệ thuật: người càng tài hoa, càng đa tài lại càng mang trong mình dự cảm về một số phận bất hạnh, đau khổ.
Vì thế, Nguyễn Du đã nâng nghệ thuật tả người lên một cấp độ rất cao: Tả sắc → tả tài → tả tâm hồn → dự báo số phận. Đó chính là nghệ thuật lấy ít gợi nhiều, “họa vân hiển nguyệt”, “Phác diệp hiện hồng hoa”.
Bút pháp hiện thực, châm biếm và cá thể hóa, điển hình hóa nhân vật khi miêu tả Mã Giám Sinh
Khác với Thúy Kiều, Thúy Vân, khi miêu tả Mã Giám Sinh, nhà thơ chuyển sang bút pháp hiện thực, châm biếm và cá thể hóa, điển hình hóa nhân vật
Nếu khi tả Thúy Vân, Thúy Kiều, Nguyễn Du dùng những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, sang trọng thì khi tả Mã Giám Sinh, nhà thơ gần như hạ nhân vật xuống khỏi thế giới lí tưởng để đưa vào đời sống thực. Nguyễn Du bắt đầu bằng tuổi tác và diện mạo:
“Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”
Cách miêu tả rất đáng chú ý. “Nhẵn nhụi”, “bảnh bao” nghe có vẻ đẹp nhưng lại tạo cảm giác chải chuốt, giả tạo, không tương xứng với tuổi tác. Đặc biệt, Nguyễn Du không tả Mã Giám Sinh bằng những hình ảnh thiên nhiên cao quý như khi tả Thúy Kiều. Ông sử dụng những từ ngữ rất đời thường, thậm chí có sắc thái mỉa mai.
Nếu “trăng”, “hoa”, “ngọc”, “mây”, “tuyết” làm cho Thúy Vân và Thúy Kiều trở nên thanh cao thì hình ảnh: “mày râu nhẵn nhụi”, “áo quần bảnh bao” lại khiến Mã Giám Sinh hiện lên với vẻ ngoài lố bịch, giả tạo, kệch cỡm.
Nếu ở Thúy Kiều, Nguyễn Du dùng vẻ đẹp để gợi phẩm chất và số phận thì ở Mã Giám Sinh, ông dùng cử chỉ, hành động để bóc trần bản chất. Đây có lẽ là điểm khác biệt quan trọng nhất.
Nguyễn Du không cần trực tiếp nói: Mã Giám Sinh là kẻ vô lễ, thiếu văn hóa, tham lam, coi con người như món hàng. Ông chỉ cần cho nhân vật hành động:
“Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”
“Ghế trên” là ghế dành cho bề trên. Thế mà, Mã Giám Sinh tự ý ngồi vào vị trí ấy thì quả thực không coi trọng phép tắc và gia chủ. Và chỉ một chữ “tót” mà dựng được cả một con người. Mã Giám Sinh không được giới thiệu là người vô lễ, nhưng hành động “ngồi tót” đã tố cáo sự vô học, sỗ sàng, thiếu lễ độ của hắn. Đây chính là nghệ thuật tả hành động bên ngoài để bóc trần bản chất bên trong” của nhân vật.
Đặc sắc nhất, Nguyễn Du tả Mã Giám Sinh bằng một “chuỗi hành động”. Chân dung Mã Giám Sinh không chỉ nằm ở ngoại hình mà được hoàn chỉnh qua cả một chuỗi hành động:
- “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”
- “Đắn đo cân sắc cân tài”
- “Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ”
- “Cò kè bớt một thêm hai”.
Những động từ: “ngồi tót – đắn đo – ép – cò kè – ngã giá” tạo thành một quá trình lộ bản chất. Ban đầu hắn xuất hiện với vẻ ngoài: “áo quần bảnh bao” nhưng càng tiếp xúc, bản chất càng lộ rõ: hắn đang mua một con người.
Đỉnh điểm là: “Cò kè bớt một thêm hai”. Ngôn ngữ mua bán đã biến Thúy Kiều thành một món hàng. Đây không chỉ là hành động của một cá nhân mà còn là bức tranh hiện thực về xã hội đồng tiền, nơi nhân phẩm và số phận con người bị đem ra cân đo, mặc cả.
Một điểm đối lập rất sâu sắc: “tả đẹp” và “tả xấu”
| Tiêu chí | Thúy Vân – Thúy Kiều | Mã Giám Sinh |
| Mục đích miêu tả | Ca ngợi vẻ đẹp, tài năng, phẩm hạnh | Vạch trần bản chất xấu xa, giả dối |
| Bút pháp | Ước lệ, tượng trưng, lí tưởng hóa | Hiện thực, tả thực, cá thể hóa |
| Ngôn ngữ | Trang trọng, đẹp đẽ, giàu chất thơ | Bình dị, sắc lạnh, giàu tính châm biếm |
| Hình ảnh sử dụng | Thiên nhiên đẹp: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc, nước mùa thu, núi mùa xuân… | Chi tiết đời thường: mày râu, áo quần, ghế ngồi, cách đi đứng… |
| Trọng tâm miêu tả | Vẻ đẹp ngoại hình, tài năng, tâm hồn | Hành động, cử chỉ, thái độ, cách ứng xử |
| Cách khắc họa ngoại hình | Tả ngoại hình để gợi vẻ đẹp và phẩm chất bên trong | Tả ngoại hình để bộc lộ sự kệch cỡm, giả tạo |
| Mối quan hệ ngoại hình – tính cách | Ngoại hình phản ánh tâm hồn cao đẹp | Ngoại hình phản ánh nhân cách thấp hèn |
| Cách thể hiện tính cách | Gián tiếp qua vẻ đẹp, tài năng | Trực tiếp qua lời nói, hành động |
| Mức độ cá thể hóa | Mang vẻ đẹp lí tưởng, có tính khuôn mẫu | Mang nét riêng, cụ thể, sinh động |
| Trình tự miêu tả | Ngoại hình → phẩm chất → tài năng → số phận | Lai lịch → ngoại hình → hành động → bản chất |
| Giá trị dự báo | Dự báo số phận nhân vật | Bộc lộ ngay bản chất nhân vật |
| Hiệu quả nghệ thuật | Gây cảm phục, yêu mến, trân trọng | Gây khinh ghét, phê phán |
| Giọng điệu | Trân trọng, ngợi ca, nâng niu | Mỉa mai, châm biếm, đả kích |
| Thái độ của tác giả | Yêu thương, cảm thông, đề cao con người | Khinh bỉ, lên án kẻ buôn người và xã hội đồng tiền |
| Giá trị tư tưởng | Thể hiện cảm hứng nhân đạo | Thể hiện giá trị hiện thực và tinh thần phê phán |
| Nghệ thuật đặc sắc | Tả người bằng bút pháp ước lệ tượng trưng | Tả người bằng bút pháp hiện thực sắc sảo |
* Nhận xét: Nguyễn Du luôn “tả người từ bên trong” Đây mới là điều cần nhấn mạnh khi đánh giá tài năng Nguyễn Du. Nguyễn Du không bao giờ chỉ tả một khuôn mặt hay một thân hình.
- Chị em Thúy Kiều được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, hướng tới việc lí tưởng hóa vẻ đẹp và phẩm chất con người. Tả vẻ đẹp để gợi phẩm chất và số phận.
- Mã Giám Sinh được khắc họa bằng bút pháp hiện thực, tập trung vào chi tiết ngoại hình, lời nói, hành động để phơi bày, lột tả bản chất giả dối, đê tiện.
→ Sự đối lập trong nghệ thuật miêu tả cho thấy tài năng của Nguyễn Du: ca ngợi con người lương thiện, đồng thời phê phán những thế lực chà đạp con người trong xã hội phong kiến.
Tài năng kiệt xuất của Nguyễn Du
Qua hai đoạn trích, có thể thấy tài năng Nguyễn Du trước hết nằm ở khả năng lựa chọn chi tiết cực kỳ tinh tế. Chỉ một chữ “tót” (thể hiện sự vô học), một từ “cò kè” (thể hiện bản chất con buôn), một cặp từ “ghen – hờn” (thể hiện sự hòa hợp, tôn vinh), hay cặp “thua – nhường” (thể hiện sự ghen tức, đố kị) cũng đủ tạo nên cả một thế giới nhân vật.
Thứ hai, Nguyễn Du có khả năng cá thể hóa, điển hình hóa nhân vật rất cao. Thúy Vân không giống Thúy Kiều; Thúy Kiều càng không giống Mã Giám Sinh. Mỗi nhân vật bước ra từ trang thơ đều có một diện mạo, một thần thái, một tính cách và một số phận riêng.
Thứ ba, ông đạt đến trình độ kiệt xuất trong việc kết hợp giữa tả người và dự báo số phận. Chân dung nhân vật không đứng yên mà dường như đã chứa sẵn tương lai của nhân vật.
Và sâu sắc hơn cả, nghệ thuật tả người của Nguyễn Du luôn gắn với cái nhìn nhân đạo. Ông trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp, tài năng của con người; đồng thời đau đớn trước cảnh con người bị chà đạp bởi những thế lực tàn nhẫn và đồng tiền.
* Nhận định:
Nếu ở Thúy Vân và Thúy Kiều, Nguyễn Du đạt đến đỉnh cao của bút pháp ước lệ, tượng trưng để biến ngoại hình thành tín hiệu của phẩm chất và số phận, thì ở Mã Giám Sinh, ông lại đạt đến độ sắc sảo của bút pháp hiện thực, dùng những chi tiết đời thường và hành động giàu sức tố cáo để bóc trần bản chất nhân vật.
Chính sự linh hoạt, tinh tế và sâu sắc ấy đã làm nên nghệ thuật tả người bậc thầy của Nguyễn Du: mỗi chân dung không chỉ hiện lên trước mắt người đọc mà còn sống động trong tính cách, rung động trong tâm hồn và ám ảnh bởi số phận. Qua đó, tài năng kiệt xuất và tấm lòng nhân đạo lớn lao của đại thi hào Nguyễn Du càng được khẳng định, góp phần làm nên sức sống bất diệt của Truyện Kiều.
