Chuyên đề Đọc hiểu truyện truyền kì | Đề bài và đáp án chi tiết

ĐỀ BÀI 1:

Đọc văn bản sau:

(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ cô cha, nhà nghèo nên học hành dang dở, chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mối manh đến hỏi. Nguyễn sinh nhờ mẹ bảo người mỗi manh đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phần chỉ bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

– Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

Ông làm theo lời con. Khi lứa thiêu đã lụi, ông thấy trong nằm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

Nguyễn sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chỉ dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điều nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bồng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng.

Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyến soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424-426)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Thể loại của văn bản của đoạn trích trên?

Câu 2. Nêu chủ đề của văn bản.

Câu 3. Chàng trai xem chiếc hộp con chứa khối đó trong hoàn cảnh nào?

Câu 4. Nêu cảm nhận của em về chi tiết “Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bồng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay ảo chàng.”

Câu 5. Từ câu chuyện tình ở Thanh Trì, em có suy nghĩ gì về khát vọng tình yêu thời phong kiến?

💡 GỢI Ý ĐÁP ÁN:

Câu 1:

– Thể loại văn bản: Truyện truyền kỳ.

Câu 2:

– Chủ đề của truyện: Qua câu chuyện tình yêu bi kịch của chàng trai và cô gái ở Thanh Trì, tác giả Vũ Trinh muốn thể hiện khát vọng tình yêu tự do của lứa đôi thời phong kiến và phê phán sự ngăn cản của gia đình đại diện cho sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội xưa.

Câu 3: Chàng trai xem chiếc hộp con chứa khối đỏ trong hoàn cảnh: Sau vài năm chàng trai đi xa, nay có đủ vàng về lo chuyện cưới xin, đến nhà cô gái mới hay cô đã chết vì nỗi oan tình. Chàng đến viếng nàng và được bố cô đem cho xem chiếc hộp con chứa khối đỏ mà thể xác con gái sau khi chết đã để lại.

Câu 4: Trình bày cảm nhận về chi tiết “Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đã tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng”.

  • Chi tiết kì ảo, gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
  • Chi tiết cho thấy nỗi đau đớn của chàng trai trước sự ra đi của cô gái. Giọt nước mắt của chàng trai là giọt nước mắt của sự thấu hiểu, của yêu thương và đau xót vô hạn khi người mình yêu vĩnh viễn ra đi.
  • Khối đỏ kia tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng đem đến liên tưởng cho người đọc về sự hóa giải oan tỉnh, để người ra đi được thanh thản.

Câu 5: Từ câu chuyện tình ở Thanh Trì, em có suy nghĩ về khát vọng tình yêu thời phong
kiến: Câu chuyện tình ở Thành Trì là mối tình giữa chàng trai nghèo làm nghề chèo đò với cô gái con nhà giàu. Cô gái chủ động mong muốn kết duyên với chàng trai, chàng trai cũng mong kết duyên cùng nàng, điều đó thể hiện khát vọng tình yêu tự do vượt lên trên những hà khắc của lễ giáo phong kiến, định kiến phân biệt giàu nghèo trong xã hội. Kết thúc của mối tình là kết thúc bi kịch.

Suy nghĩ về khát vọng tình yêu trong xã hội phong kiến:

  • Khát vọng tình yêu là khát vọng chính đáng của con người ở mọi thời. Những đôi lứa sống trong xã hội phong kiến mong muốn tình yêu tự do, muốn vượt lên khói những ràng buộc của lễ giáo phong kiến như “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “môn đăng hộ đối”….
  • Tình yêu của nhiều cặp đôi vấp phải những sự ngăn cản, cấm đoán đến từ gia đình, xã hội.
  • Dù cho bị ngăn cản, nhưng những đôi lứa vẫn dành tình yêu trọn vẹn cho nhau, cái chết cũng không thể chia lìa tình yêu của họ.
ĐỀ BÀI 2:

Đọc văn bản sau:

“Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiêm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt. Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỏ; đời Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nhà dân bên bờ hồ Tây.

Một buổi sáng, ở nhà trọ đi ra, trong áng sương mù thấy có một đám những tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không; kế lại có một cỗ xe nạm hạt châu, kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dòm trộm xem thì người ngồi trong xe, chính thầy học mình là Dương Trạm. Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói: – Giữa đường không phải chỗ nói chuyện, tối mai nên đến đền Trấn Vũ cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên. Từ Hư bên sầm rượu và thức nhằm, đúng hẹn mà đến. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lầm, chàng nhân hỏi rằng:

Thầy mới từ trần chưa bao lâu, thoắt đã trở nên hiển hách khác hẳn ngày trước, xin thầy cho biết rõ duyên do để con được vui mừng.

Dương Trạm nói:

Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen, chỉ có hay giữ điều tín thực đối với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi. Đức Đế quân đây ngài khen là có bụng tốt tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng. Hôm qua ta hầu lính giá ngài lên chầu Thiên cung, tình cờ lại gặp nhà ngươi, đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên…”

(Trích chuyện Phạm Tử Hử lên chơi Thiên Tào, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trẻ, 2016, Tr.142)

Trả lời câu hỏi/ thực hiện yêu cầu:

Câu 1. Xác định thể loại của đoạn trích trên

Câu 2. Điều gì khiến Dương Trạm được Đức Đế quân khen là có bụng tốt và tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Từ đồng?

Câu 3. Từ Hán Việt “kiềm thúc” được hiểu nghĩa như thế nào?

Câu 4: Hiệu quả nghệ thuật của chi tiết kì ảo được sử dụng trong đoạn trích?

Câu 5. Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta?

💡 GỢI Ý ĐÁP ÁN:

Câu 1. Đoạn trích thuộc thể loại truyện truyền kì (trích từ Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ).

Câu 2. Dương Trạm được Đức Đế quân khen là có bụng tốt vì:

  • Luôn giữ điều tín thực đối với thầy bạn.
  • Quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi thì nhặt lên và đốt đi một cách cẩn thận.
  • Nhờ những việc làm đó mà ông được Đức Đế quân tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử Đồng.

Câu 3. Ý nghĩa từ Hán Việt “kiềm thúc”:

  • Kiềm thúc: kìm giữ, ràng buộc, quản thúc, ép mình vào khuôn phép.
  • Trong câu văn, “không ưa kiềm thúc” có nghĩa là không thích bị gò bó, ràng buộc bởi khuôn phép hay sự quản lí của người khác.

Câu 4. Hiệu quả nghệ thuật của chi tiết kì ảo được sử dụng trong đoạn trích

  • Ca ngợi phẩm chất cao quý của Tử Hư.
  • Tạo nên màu sắc huyền ảo, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.
  • Làm cho câu chuyện trở nên sinh động, giàu sức tưởng tượng.
  • Thể hiện quan niệm của người xưa về luật nhân quả: người sống có đạo đức, làm việc thiện sẽ được đền đáp xứng đáng.
  • Góp phần ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của Dương Trạm và truyền tải bài học đạo đức về lòng trung thực, sự tôn trọng chữ nghĩa và tình nghĩa thầy trò.

Câu 5. Suy nghĩ về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình:

  • Tử Hư là người học trò giàu lòng biết ơnkính trọng thầy. Khi thầy mất, chàng đã làm lều bên mộ để chịu tang, hương khói suốt ba năm. Hành động ấy thể hiện tình cảm chân thành, sâu nặng đối với người đã dạy dỗ mình nên người.
  • Qua đó, em càng hiểu hơn ý nghĩa của truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. Đây là truyền thống tốt đẹp, thể hiện lòng biết ơn, kính trọng đối với thầy cô – những người truyền đạt tri thức và giáo dục nhân cách cho học trò. Trong cuộc sống hôm nay, mỗi học sinh cần ra sức học tập, lễ phép, kính trọng và biết ơn thầy cô bằng những việc làm cụ thể để góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu ấy.
ĐỀ BÀI 3:
Đọc văn bản sau:(Tóm tắt phần đầu: Từ Nhị Khanh vốn con nhà nghèo, kết duyên cùng Phùng Trọng Quỳ, con quan Thiêm thư giàu có. Nhị Khanh tuy hãy còn nhỏ, nhưng sau khi về nhà họ Phùng biết cư xử rất khéo, được mọi người ta khen là người nội trợ hiền. Trọng Quỳ lớn lên, dần sinh ra chơi bời lêu lổng; Nhị Khanh thường vẫn phải can ngăn. Trọng Quỳ cùng cha vào vùng đất Nghệ An cai trị 6 năm trời không tin tức gì, Nhị Khanh ở nhà thủ tiết chờ chồng, “quyết không mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp với người khác”. Sau Nhị Khanh nhờ người bồ già lặn lội vào tận Nghệ An hỏi thăm tin tức mới hay cha chồng đã mất được mấy năm rồi, vì Trọng Quỳ ham chơi nên gia sản sạch sành sanh. Trọng Quỳ về đến nhà, vợ chồng mừng rỡ, cùng trông nhau mà khóc.)Song Phùng sinh vì quen thân phóng lãng, thuộc tính chơi bời, về nhà ít lâu rồi nết cũ lại đâu đóng đấy, hằng ngày cùng người lái buôn là Đồ Tam bê tha lêu lổng. Sinh thì thích Đồ có tiền nhiều. Đồ thì ham sinh có vợ đẹp. Những khi uống rượu với nhau rồi đánh bạc, Đỗ thường lấy lợi nhữ sinh. Sinh đánh lần nào cũng được, thấy kiếm tiền dễ như thò tay vào túi mình lấy đồ vật vậy. Nhị Khanh vẫn răn bảo rằng:- Những người lái buôn phần nhiều là giảo quyệt, đừng nên chơi thân với họ; ban đầu tuy họ thả cho mình được, nhưng rồi họ sẽ vét hết của mình cho mà xem.Sinh không nghe. Một hôm sinh cùng các bè bạn họp nhau đánh tứ sắc. Đồ bỏ ra trăm vạn đồng tiền để đánh và đòi sinh đánh bằng Nhị Khanh. Trọng Quỳ quen mui vẫn được luôn, chẳng suy nghĩ gì, liền bằng lòng cách ấy. Giấy giao kèo viết xong rồi vừa uống rượu vừa gieo quân. Trọng Quỳ gieo ba lần đều thua cả ba, sắc mặt tái mét; cử tọa cũng đều ngơ ngác buồn rầu hộ.Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng:- Tôi vì nỗi nghèo nó bó buộc, để lụy đến nàng. Việc đã đến thế này, hối lại cũng không kịp nữa. Thôi thì bị hoan tán tụ cũng là việc thường của người ta. Nàng nên tạm về với người mới, khéo chiều chuộng hẳn, rồi bất nhật tôi sẽ đem tiền đến chuộc.Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng:Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đâu từ chối. Số giời xếp đặt, há chẳng là tiền định hay sao! Nếu chồng mới không nỡ rẻ bỏ, còn đoái thu đến cái dung nhan tàn tạ này, thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ như đã đối với chàng xưa nay. Nhưng xin cho uống một chén rượu, mượn làm một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con một chút.Đồ cả mừng, rót đầy một chén rượu xà cừ đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng về nhà ôm lấy hai con, vỏ vào lưng mà bảo rằng:

Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt ly là việc thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì. Nhưng mẹ chỉ nghì thương các con mà thôi.

Nói xong, lấy đoạn dây tơ thắt cổ mà chết.

Trọng Quỳ hối hận vô cùng, sắm đồ liệm tảng tử tế rồi làm một bài văn tế vợ.

(Lược dẫn: Sau khi vợ chết, Trọng Quỳ hối hận vô cùng. Nhị Khanh sau khi chết được Thượng đế thương là oan uống nên cho coi giữ số sách ở tòa đền Trưng Vương. Một hôm đi đường xa, Trọng Quỳ ngủ dưới gốc cây thì được Nhị Khanh báo mộng, hẹn gặp ở đền Trưng Vương. Trọng Quỳ đúng hẹn đến trước đền, đợi từ chiều tà đến nửa đêm thì Nhị Khanh xuất hiện).

Nhị Khanh nói:

– Vừa rồi thiếp nhân theo xe mây, lên có việc ở nơi Đế sở. Vì cớ có chàng nên thiếp đã phải bầm xin về trước đấy; thành ra cũng sai hẹn với chàng một chút.

Bèn dắt tay nhau đi năm, cùng nhau chuyện trò thủ thỉ. Khi nói đến việc hiện thời, Nhị Khanh chau mày:

– Thiếp thường theo chầu tả hữu Đức Bà ở đây, được trộm nghe chư tiên nói chuyện với nhau, bảo Hồ triều sẽ hết vào năm Bính Tuất, bình cách nổi lớn, số người bị giết chóc đến chừng hơn 20 vạn, ấy là chưa kế số bị bắt cướp đi. Nếu không phải người trồng cây đức đã sâu thì chỉ e ngọc đá đều bị cháy cả. Bấy giờ có một vị chân nhân họ Lê, từ miền tây nam xuất hiện; chàng nên khuyên hai con bên chỉ đi theo vị ấy, thiếp dù chết cũng không nát.

Trời gần sáng, Nhị Khanh vội dậy để cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại, rồi thoắt chốc thì biến đi mất.

Trọng Quỳ bên không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu.

(Trích Người nghĩa phụ Khoái Châu, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 242-250)

Trả lời câu hỏi/ thực hiện yêu cầu:

Câu 1. Đoạn trích được kế theo ngôi kể nào?

Câu 2. Lí do nào khiến Nhị Khanh tìm đến cái chết?

Câu 3. Từ Hán Việt nào có yếu tố đồng âm khác nghĩa với yếu tố in đậm trong câu sau: “Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng…”

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản trên.

Câu 5. Từ số phận của nàng Nhị Khanh trong đoạn trích, em có suy nghĩ gì về nguyên nhân gây ra những bất hạnh cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa?

💡 GỢI Ý ĐÁP ÁN:

Câu 1. Đoạn trích được kế theo ngôi kể thứ 3.

Câu 2. Lí do khiến Nhị Khanh tìm đến cái chết:

  • Đau buồn khi Trọng Quỳ bạc tình: Trọng Quỳ đem ra làm vật cá cược trong ván bài và thua cho Đồ Tam.
  • Thủy chung trong tình cảm vợ chồng với Trọng Quỳ, quyết không mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp với người khác.
  • Nàng bị xúc phạm nghiêm trọng về nhân phẩm, danh dự và không thể thoát khỏi hoàn cảnh éo le ấy.
  • Hành động tự vẫn còn thể hiện sự đau khổ, tuyệt vọng trước sự bạc bẽo, vô trách nhiệm của người chồng.

Câu 3. Từ Hán Việt có yếu tố đồng âm khác nghĩa với yếu tố in đậm trong câu sau: “Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng…” là: Yên ba.

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản trên.

Yếu tố kì ảo:

  • Sau khi chết, Nhị Khanh được Thượng đế thương tình cho coi giữ sổ sách ở đền Trưng Vương.
  • Nhị Khanh hiện về báo mộng cho Trọng Quỳ.
  • Cuộc gặp gỡ giữa Nhị Khanh và Trọng Quỳ ở đền Trưng Vương.
  • Nhị Khanh biết trước vận mệnh đất nước và sự xuất hiện của Lê Lợi.
  • Nhị Khanh thoắt hiện, thoắt biến.

Tác dụng:

  • Tạo nên màu sắc huyền ảo, hấp dẫn cho câu chuyện.
  • Thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kì.
  • Bày tỏ niềm cảm thương đối với số phận oan khuất của Nhị Khanh.
  • Thể hiện khát vọng công lí của nhân dân: người tốt, người có phẩm hạnh được minh oan và đền bù xứng đáng.
  • Góp phần ca ngợi phẩm chất thủy chung, đức hạnh của Nhị Khanh.

Câu 5. Từ số phận của nàng Nhị Khanh trong đoạn trích, em có suy nghĩ về nguyên nhân gây ra những bất hạnh cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa:

– Số phận của nàng Nhị Khanh: Cuộc đời của nàng là hiện thân của bi kịch với số phận bất hạnh. Dù có nhân phẩm cao đẹp thì Nhị Khanh vẫn phải chịu chung kết cục như nhiều người phụ nữ khác trong “Truyền kì mạn lục”. Bao năm thú tiết chờ chồng những mong được đền đáp tấm chân tình, nhưng chồng nàng vì ham vui cờ bạc đến khánh kiệt gia sản, phải đem vợ ra đánh bạc với Đỗ Tam, đem nghĩa vợ chồng ra làm trò cá cược trên canh bạc. Khi thua bạc, Trọng Quỳ đành gán nợ vợ.

– Suy nghĩ về nguyên nhân gây ra bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

+ Do cuộc hôn nhân không bình đẳng, không môn đăng hộ đối.

+ Do mặt tiêu cực của lễ giáo phong kiến: Quan niệm trọng nam khinh nữ, ở đó vị trí của người phụ nữ bị hạ thấp, vị trí của người đàn ông được đề cao quá mức. Tiếng nói của người phụ nữ không mấy giá trị, ít được chấp nhận. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến còn bị ràng buộc bởi lễ giáo “tam tòng, tứ đức” hà khắc, không có quyền tự quyết định cuộc đời mình.

+ Do xã hội đồng tiền coi tiền bạc, của cải hơn tình nghĩa. Đồng tiền có sức mạnh phá hủy nhân cách ghê gớm, phá hủy cả đạo lí vợ chồng.

Đoạn văn tham khảo: Qua số phận của Nhị Khanh, có thể thấy bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết là chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, xem người phụ nữ như tài sản thuộc quyền sở hữu của đàn ông nên họ không có quyền quyết định cuộc đời mình. Bên cạnh đó là sự ích kỉ, vô trách nhiệm của những người chồng như Trọng Quỳ, sẵn sàng đem vợ ra làm vật cá cược. Ngoài ra, những hủ tục và quan niệm lạc hậu đã đẩy người phụ nữ vào cảnh bị áp bức, chà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần. Qua đó, em càng trân trọng những quyền bình đẳng mà phụ nữ ngày nay đang có và thấy cần phải tôn trọng, bảo vệ quyền và phẩm giá của người phụ nữ trong mọi hoàn cảnh.

ĐỀ BÀI 4:

Đọc văn bản sau:

(Tóm tắt phần đầu: Từ Thức làm quan Tri huyện Tiên Du, nhân một buổi xem hội hoa mẫu đơn mà cứu giúp một người con gái đẹp. Vì tính ham thơ mến cảnh nên chàng đã từ quan mà chọn sống chốn nước biếc non xanh. Một hôm Từ Thức mải vân cảnh mà lạc vào động tiên, gặp lại người con gái mà chàng đã cứu hôm đi hội, mới biết hóa ra cô gái đó chính là nàng tiên Giáng Hương, con của bà tiên cai quản vùng núi Phù Lai, động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biến cả. Để báo đáp ơn cứu mạng trước kia, phu nhân đã tác hợp cho Từ Thức và Giáng Hương nên duyên vợ chồng trong sự chúc phúc của quần tiên.)

Nhưng từ khi chàng bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay màu biếc. Những đêm sương sa gió thối, bóng trăng sáng nhòm qua cửa số, tiếng thủy triều nghe văng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiều khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương nam, Từ tró bảo Giáng Hương rằng:

– Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biến cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.

Rồi nhân lúc rồi, chàng nói với nàng rằng:

Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng có héo hon, dám xin thế tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?

Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:

– Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, đề về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chỗ làng mây bến nước.

Giáng Hương khóc mà nói:

– Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mỗi lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về, nhưng chỉ e liều sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.

Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:

– Không ngờ chàng lại thắc mắc vì mối lòng trần như vậy.

Nhân cho một cổ xe cấm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:

– Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình cũ kĩ..

Rồi trào nước mắt mà chia biệt.

Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thủa nọ. Bên đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:

Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi.

Chàng bấy giờ mới buồn bực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: “Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên biển, dịp khác còn đâu!” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.

(Trích Từ Thức lấy vợ tiên, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 259 – 260)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Chỉ ra đặc điểm không gian và thời gian nghệ thuật trong đoạn trích trên.

Câu 2. Theo đoạn trích, khi trở lại chốn cù quê xưa, Từ Thức thấy những cảnh tượng gì?

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.

Câu 4. Em hãy lí giải sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chàng bèn mặc áo cứu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.

Câu 5. Rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất và lí giải.

💡 GỢI Ý ĐÁP ÁN:

Câu 1. Chỉ ra đặc điểm không gian và thời gian nghệ thuật trong đoạn trích

– Không gian nghệ thuật:

  • Không gian tiên giới: động tiên Phù Lai, biển cả, làng mây bến nước, sân hoa vườn ngọc,…
  • Không gian trần thế: quê hương của Từ Thức, núi khe, thành quách nhân gian.

– Thời gian nghệ thuật:

  • Thời gian ở tiên giới và trần thế có sự khác biệt: Từ Thức sống ở tiên giới mới khoảng một năm nhưng khi trở về trần gian thì đã hơn 80 năm trôi qua.
  • Thời gian mang tính phi thực, huyền ảo, thể hiện đặc trưng của truyện truyền kì.

Câu 2. Theo đoạn trích, khi trở lại chốn quê xưa, Từ Thức thấy những cảnh tượng gì?

– Khi trở lại quê hương, Từ Thức thấy:

  • Mọi thứ đã thay đổi, “vật đổi sao dời”.
  • Thành quách, nhà cửa, con người không còn như trước.
  • Không còn ai quen biết chàng nữa.
  • Chỉ có cảnh núi khe vẫn giữ nguyên sắc biếc màu xanh như xưa.
  • Chàng được biết mình đã rời khỏi trần thế hơn 80 năm.

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong đoạn trích

– Yếu tố kì ảo:

  • Động tiên, cuộc sống nơi tiên giới.
  • Sự khác biệt giữa thời gian tiên giới và trần gian (một năm ở tiên giới tương ứng hơn 80 năm ở trần thế).
  • Xe cẩm vân đưa Từ Thức trở về quê.
  • Chiếc xe hóa thành chim loan bay mất.
  • Cuộc gặp gỡ và hôn nhân giữa người trần và tiên nữ.

– Tác dụng:

  • Tạo nên màu sắc huyền ảo, hấp dẫn cho câu chuyện.
  • Thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kì.
  • Góp phần xây dựng thế giới tiên cảnh đẹp đẽ, lí tưởng.
  • Làm nổi bật bi kịch của Từ Thức khi không còn thuộc về cả tiên giới lẫn trần thế.
  • Thể hiện khát vọng thoát khỏi cuộc sống thực tại đầy ràng buộc của con người thời trung đại.

Câu 4. Em hãy lí giải sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích

– Cuối đoạn trích, Từ Thức chọn vào núi Hoành Sơn rồi biệt tích vì:

  • Khi trở về quê hương, mọi thứ đã đổi thay, người thân không còn, quê cũ không còn là nơi chàng có thể gắn bó.
  • Tiên giới cũng đã khép lại cánh cửa đối với chàng khi chiếc xe hóa thành chim loan bay mất và bức thư của Giáng Hương báo trước sự chia ly vĩnh viễn.
  • Chàng rơi vào trạng thái lạc lõng, không thuộc về cả hai thế giới: tiên giới và trần thế.
  • Sự lựa chọn ấy thể hiện tâm trạng cô đơn, bế tắc, đồng thời cho thấy khát vọng thoát tục, tìm đến cuộc sống tự do, thanh cao của người trí thức trong xã hội phong kiến.

Câu 5. Rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất và lí giải

– Thông điệp: Con người cần biết trân trọng hiện tại và những gì mình đang có.

– Lí giải: Từ Thức đang có cuộc sống hạnh phúc nơi tiên giới nhưng vẫn đau đáu nhớ quê hương nên quyết định trở về. Khi trở lại nhân gian, chàng nhận ra tất cả đã đổi thay, người thân và quá khứ đều không thể tìm lại được nữa. Cuối cùng, chàng mất cả tiên giới lẫn trần thế. Câu chuyện nhắc nhở mỗi người hãy biết quý trọng những giá trị đang hiện hữu trong cuộc sống, bởi có những điều khi đã đánh mất thì không thể lấy lại được. Đồng thời, tác phẩm cũng cho thấy quy luật vô thường của thời gian và những giới hạn trong khát vọng của con người.

ĐỀ BÀI 5:

Đọc văn bản sau:

(Lược một đoạn: Đào Cảnh Long, hiệu là Vân Hiên cư sĩ, là một học trò nghèo sống vào cuối đời Lê Chiêu Thống, đức độ rộng rãi, tính tình chất phác, trọng danh nghĩa, chuộng khí khái. Năm Bính Thìn, vì nhà thiếu ăn, chàng phải đi dạy học thuê cho một nhà giàu).

Ở chỗ dạy học, anh có nuôi một con chó già, sớm hôm chơi đùa với nó. Anh đi đâu, nó cũng đi theo. Anh ngồi đâu, nó cũng đứng chầu bên cạnh. Anh đặt tên nó là Hàn Lư. Anh thường đùa với nó:

– Mày được ta chăm nuôi, mày có chịu dốc sức liều chết vì ta không? Con vật gật đầu, nghoe nguẩy đuôi như tỏ ý nhận lời.

Mấy tháng sau, anh có việc phải trở về quê hương. Con chó phải ở lại. Nó quanh quần ra vào ở cửa phòng học. Ban ngày xua đuổi gà lợn, ban đêm phòng giữ kẻ gian. Nhiều khi bọn trẻ lãng quên, không cho ăn, tiếng sủa của con chó không còn được sang sảng nữa.

Bấy giờ, trong làng có một phú ông họ Trương thấy vậy, thương hại, đem cơm đến cho ăn. Vừa bước vào cửa phòng học, liền bị con chó cần phải. Ông trách mắng:

– Hàn Lư! Hàn Lư! Vì thương mày đói lâu nay, nên ta đến đưa cơm cho mày ăn. Ta đâu phải là kẻ bất nhân! Mày tuy là giống vật, nhưng cũng biết suy nghĩ chút ít. Sao mày lại lấy oán trả ân?

Ông chưa dứt lời, con vật chồm lên, nhe răng, giơ vuốt, nói bằng tiếng người:

– Ngày chủ tôi đi có căn dặn tôi phải bảo vệ phòng học, trông nom bọn trẻ. Ngăn chặn ké ác, cấm đoán kẻ gian là trách nhiệm của tôi. Ông tới đột ngột, lại không có chủ tôi đón tiếp, thì bị cần một miếng là đúng lẽ thôi! Thế mà còn trách mắng nặng lời gì nữa!

Thấy con chó biết nói tiếng người, lại nói đúng lẽ, phú ông thầm nghĩ trong bụng nó là con vật kì lạ, ý muốn dụ dỗ, bèn nói:

– Ông chủ của mày bản chất là thầy đồ nghèo. Mình hẳn chẳng đủ miếng ăn, lấy đâu ra dành cho mày nữa. Bây giờ chỉ bằng mày bỏ chỗ tối, tới chỗ sáng, bỏ nhà nghèo, tới nhà giàu, tìm nơi no đủ, sung sướng suốt đời, có phải hơn không? Tội gì mà phải chịu khổ mãi?

Con chó nói:

– Ôi! Ông cũng là người, sao nỡ mở miệng buông lời như thế. Kẻ sĩ trung nghĩa, không vì cùng hay thông mà thay đổi ý chí, cho nên đến mùa rét mới biết rõ bách tùng tươi tốt hơn các cây khác, gặp gió mạnh mới hay cây đứng được vững chắc. Giống súc vật tuy khác với loài người, song vẫn có tính trời phú, biết giữ vững khí tiết đối với chủ của mình. Huống hồ ông chủ của tôi lại là một người luôn biết giữ lòng chân chính, sống nghề quang minh, trung để thờ vua, tín để kết bạn, hiếu với cha mẹ, hòa thuận họ hàng, trời sắp giao cho trách nhiệm quan trọng, cho nên bắt phải cùng khố thiếu thốn, để trau dồi cho được thành công tốt đẹp đó thôi! Ông nói năng lung tung chẳng đúng gì, nên tôi tha thứ cho. Nếu không miệng này sẽ cần cho một miếng nữa, chẳng ngần ngại gì! Hãy mau mau lui về, chớ để sau phải hối tiếc!

Phú ông nghe xong, sửng sốt ngây dại, hiểu rõ con vật có nghĩa, không thể giành giật được, đành mang cơm ra về.

Vài hôm sau, Đào Cảnh Long trở về, con chó mừng rỡ ra cửa đón tiếp, hình dáng tiều tụy khôn xiết. Nghe xóm giềng kế lại câu chuyện, Đào Cảnh Long cảm động lắm, ngậm ngùi lấy làm lạ mãi. Anh kiểm tra lại phòng sách, thì khóa cửa không di chuyến, giường chiếu còn y nguyên, đều là nhờ con chó hết sức canh giữ.

Ôi! Con chó là loài súc vật, mà còn biết giữ lòng tiết nghĩa thờ chủ. Dù dùng lời đường mật dụ dỗ, cũng không thể lay chuyển lòng dạ sắt đá của nó. Huống gì con người ăn lộc nhà vua, nếu giữ vững đầy đủ cái lòng tiết nghĩa ấy để đền ơn nước, xông ra đánh giặc, giặc nào chẳng tan; cố sức giữ thành, thành nào chẳng vừng…

Than ôi! Sao mà lòng người chẳng còn được như xưa, thói đời đổi thay nhiều dạng? Lúc nước nhà yên vui thì bợ đỡ cầu vinh, lúc cuộc đời rối ren thì trở mặt đối giọng, bán nước kiếm ăn, theo thời cầu lợi, không còn chút liêm sỉ, thật là quá quất!

Vì vậy, tôi cho rằng ở đời nhiều kẻ không bằng con Hàn Lư đấy! Nhân ghi lại mẫu chuyện để răn bảo người đời.

(Trích Chuyện con chó có nghĩa của một nhà nghèo, Phạm Quý Thích, in trong Truyện truyền kì Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh – Nguyễn Quang Ân sưu tầm, tuyển chọn, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.320 -332)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra lời của nhân vật, lời của người kể chuyện trong những câu văn sau:

Anh thường đùa với nó:

– Mày được ta chăm nuôi, mày có chịu dốc sức liều chết vì ta không? Con vật gật đầu, nghoe nguẩy đuôi như tỏ ý nhận lời.

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo được sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Xác định chủ đề của văn bản.

Câu 5. Em rút ra được những bài học gì cho bản thân sau qua văn bản trên?

💡 GỢI Ý ĐÁP ÁN:

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản

– Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi tên nhân vật là “Đào Cảnh Long”, “phú ông họ Trương”, “con chó Hàn Lư”,… và thuật lại các sự việc diễn ra.

Câu 2. Chỉ ra lời của nhân vật, lời của người kể chuyện trong đoạn văn

– Lời của người kể chuyện:

  • Anh thường đùa với nó
  • Con vật gật đầu, nghoe nguẩy đuôi như tỏ ý nhận lời.

– Lời của nhân vật (Đào Cảnh Long):

  • Mày được ta chăm nuôi, mày có chịu dốc sức liều chết vì ta không?

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo được sử dụng trong văn bản

– Yếu tố kì ảo:

  • Con chó Hàn Lư có thể nói tiếng người, đối đáp với phú ông họ Trương bằng những lí lẽ sâu sắc như một con người.

– Tác dụng:

  • Tạo nên màu sắc huyền ảo, hấp dẫn, gây hứng thú cho người đọc.
  • Thể hiện đặc trưng của thể loại truyện truyền kì.
  • Nhân hóa hình tượng con chó để làm nổi bật những phẩm chất đáng quý như trung thành, nghĩa khí, thủy chung với chủ.
  • Qua việc để một con vật nói năng, suy nghĩ như con người, tác giả gián tiếp phê phán những kẻ phản bội, tham danh lợi, không giữ được đạo nghĩa.
  • Gửi gắm bài học về lòng trung nghĩa, sự kiên định trước những cám dỗ vật chất.

Câu 4. Xác định chủ đề của văn bản

– Chủ đề của văn bản: Mượn câu chuyện về chú chó tình nghĩa với chủ, văn bản thể hiện chủ đề: Ca ngợi những con người có tấm lòng trung nghĩa, những người biết giữ lòng trung, sống quanh minh chính đai. Đồng thời phê phán những kẻ bất trung bất nghĩa, vì ham vinh hoa phú quý mà sẵn sàng bán nước cầu vinh, theo thời cầu lợi, không có liêm sỉ.

Câu 5. Em rút ra được những bài học gì cho bản thân qua văn bản trên?

Từ câu chuyện về con chó Hàn Lư, em rút ra nhiều bài học ý nghĩa. Trước hết, cần sống trung thực, thủy chung và biết trân trọng những người đã giúp đỡ, yêu thương mình. Bên cạnh đó, mỗi người phải biết giữ vững phẩm chất, lập trường đúng đắn, không vì lợi ích vật chất hay những cám dỗ trước mắt mà đánh mất nhân cách. Câu chuyện cũng nhắc nhở em phải sống có nghĩa tình, biết ơn và có trách nhiệm với những mối quan hệ trong cuộc sống. Đặc biệt, khi ngay cả một con vật còn biết giữ trọn lòng trung nghĩa, thì con người càng phải sống có đạo đức, có lòng tự trọng và biết đặt chữ “nghĩa” lên trên lợi ích cá nhân.

ĐỀ BÀI 6:

Đọc văn bản sau:

Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng này, thấy sự tà gian thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực. Trong làng trước có một ngôi đền linh ứng lầm. Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang lẫn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường. Bộ tưởng của Mộc Thạnh có viên Bách hộ họ Thôi, tửtrận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong dân gian. Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời, rồi châm lửa đốt đền. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ thay cho Tử Văn, nhưng chàng vẫn vung tay không cần gì cả.

Đốt đền xong, chàng về nhà, thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một cơn sốt nóng sốt rét. Trong khi sốt, chàng thấy một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng và quần áo rất giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ, đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ và nói:

– Nhà ngươi đã theo nghiệp nho, đọc sách vở của thánh hiền, hả không biết cái đức của quỷ thần sao, cở gì lại dám khinh nhờn húy tượng, đốt đền, khiến cho hương lửa không có chỏ tựa nương, oai linh không có nơi hiển hiện, vậy bảo làm sao bây giờ? Biết điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô cớ hủy đền Lư Sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ.

Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên. Phong đô không xa xôi gì, ta tuy hèn, hả lại không đem nối nhà ngươi đến đấy. Không nghe lời ta thì rồi sẽ biết.

Nói rồi phất áo đi.

Chiều tối, lại có một ông già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thùng thình đi vào đến trước thềm, vái chào mà rằng:

– Tôi là Thổ công ở đây, nghe thấy việc làm rất thú của nhà thầy, vậy xin đến để tỏ lời mừng.

Tử Văn ngạc nhiên nói:

– Thế người đội mũ trụ đến đây ban nãy, chẳng phải là Thổ công đấy ư? Sao mà nhiều thần quá vậy?

Ông già nói:

– Ô, đấy là viên tướng bại trận của Bắc triều, cái hồn bơ vơ ở Nam quốc, tranh chiếm miếu đền của tôi, giả mạo họ tên của tôi, quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược, Thượng Đế bị nó bưng bít, hạ dân bị nó quấy rầy, phàm những việc hưng yêu tác quái đều tự nó cả, chứ có phải tôi đâu. […]”.

Tử Văn nói:

– Việc xảy ra đến như thê, sao ngài không kiện ở Diêm Vương và tâu lên Thượng Đế, lại đi khinh bỏ chức vị, làm một người áo vải nhà quê?

Ông già chau mặt nói:

– Rẻ ác mọc lan, khó lòng lay động. Tôi đã định thưa kiện, nhưng mà có nhiều nỗi ngăn trở:
Những đền miếu gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả. Tôi chỉ giữ được một chút lòng thành, nhưng không làm thế nào để thông đạt được lên, cho nên đành tạm ẫn nhẫn mà ngồi xó một nơi.

(Trích Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ, Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục, 2009) 

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Nhân vật chính trong đoạn trích trên là ai?

Câu 2. Nguyên nhân nào khiến Tử Văn châm lửa đốt đền?

Câu 3. Hành động Tử Văn đốt đền cho thấy chàng là người có tính cách như thế nào?

Câu 4. Theo em, chỉ tiết Tử Văn tắm gội sạch sẽ, khẩn trời trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào?

Câu 5. Nhân vật chính trong đoạn trích được khắc họa chủ yếu qua phương diện nào?

Câu 6. Nhận xét về vai trò của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.

💡 GỢI Ý ĐÁP ÁN:

Câu 1. Nhân vật chính trong đoạn trích:

– Nhân vật chính trong đoạn trích là Ngô Tử Văn (tên là Soạn).

Câu 2. Nguyên nhân khiến Tử Văn châm lửa đốt đền:

Tử Văn châm lửa đốt đền vì:

  • Ngôi đền đã bị hồn ma viên Bách hộ họ Thôi (tướng giặc phương Bắc tử trận) chiếm giữ.
  • Tên giặc này làm yêu làm quái, tác oai tác quái, gây hại cho nhân dân.
  • Tử Văn là người cương trực, không thể chịu đựng được sự tà gian nên quyết định đốt đền để trừ hại cho dân.

Câu 3. Hành động Tử Văn đốt đền cho thấy chàng là người có tính cách:

– Hành động đốt đền cho thấy Tử Văn là người:

  • Khảng khái, cương trực, ghét gian tà.
  • Dũng cảm, can đảm, dám hành động để bảo vệ lẽ phải.
  • Tự tin, bản lĩnh, không sợ thần quyền hay những thế lực xấu xa.
  • Có tinh thần chính nghĩa, dám đấu tranh chống lại cái ác vì lợi ích của nhân dân.

Câu 4. Chi tiết Tử Văn tắm gội sạch sẽ, khấn trời trong đoạn trích có ý nghĩa:

  • Thể hiện sự cẩn trọng, nghiêm túc của Tử Văn trước khi thực hiện một việc hệ trọng.
  • Cho thấy chàng hành động không phải vì nóng giận nhất thời mà vì chính nghĩa.
  • Khẳng định sự trong sạch, ngay thẳng của Tử Văn; chàng tin rằng việc mình làm là đúng nên kính cáo trời đất trước khi hành động.
  • Làm nổi bật vẻ đẹp của một người chính trực, hành động vì dân trừ hại.

Câu 5. Nhân vật chính trong đoạn trích được khắc họa chủ yếu qua:

  • Hành động: đốt đền, không sợ hãi trước lời đe dọa của hồn ma.
  • Lời nói, đối thoại: thái độ cứng cỏi, kiên quyết trước tên tướng giặc và Thổ công.
  • Thái độ, cử chỉ: “vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên”, thể hiện sự bình tĩnh, bản lĩnh.

→ Trong đó, hành động và lời nói là những phương diện chủ yếu làm nổi bật tính cách nhân vật.

Câu 6. Nhận xét về vai trò của yếu tố kì ảo trong đoạn trích:

–  Yếu tố kì ảo trong đoạn trích: Đan cài giữa thế giới cõi trần và cõi âm với các nhân vật kì ảo và sự việc kì ảo:

  • Hồn ma tướng giặc bại trận tranh cướp ngôi đền của thổ công nước Việt, từ đó làm yêu làm quái trong nhân gian.
  • Hồn ma tướng giặc tìm đến Ngô Tử Văn buông lời đe dọa sau khi bị Tử Văn đốt đền, mất nơi cư trú.
  • Thổ công nước Việt đến gặp Tử Văn để tỏ lời mừng, cung cấp chứng cứ cho Tử Văn.
  • Thế giới cõi âm với thánh thần, ma quý cũng vì lợi, ham của đút lót mà bênh vực cái xấu, cái ác.

– Vai trò của yếu tố kì ảo trong đoạn trích:

  • Tạo nên màu sắc huyền bí, hấp dẫn, giàu sức lôi cuốn cho câu chuyện.
  • Thể hiện đặc trưng của thể loại truyền kì.
  • Làm cho cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và gian tà trở nên gay cấn, sinh động.
  • Góp phần khắc họa rõ nét tính cách cương trực, dũng cảm của Ngô Tử Văn.
  • Bộc lộ quan điểm và thái độ của nhà văn Nguyễn Dữ: chính nghĩa cuối cùng sẽ chiến thắng, cái ác nhất định bị trừng trị. Qua đó, tác giả gửi gắm niềm tin vào lẽ phải và khát vọng công bằng trong xã hội.

ĐỀ BÀI 7

Đọc văn bản sau:

Trong năm Quang Thái đời nhà Trần, người ở Hóa Châu tên là Từ Thức, vì có phụ ấm được bố làm tri huyện Tiên Du. Bên cạnh huyện có một tòa chùa danh tiếng, trong chùa trồng một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở thì người các nơi đến xem đông rộn rịp, thành một đám hội xem hoa tưng bừng lắm. Tháng Hai năm Bính Tý (niên hiệu Quang Thái thứ chín (1396) đời nhà Trần), người ta thấy có cô con gái, tuổi độ mười sáu, phấn son điểm phớt, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, đến hội ấy xem hoa. Cô gái vin một cành hoa, không may cành giòn mà gãy khác, bị người coi hoa bắt giữ lại, ngày đã sắp tối vẫn không ai đến nhận. Từ Thức cũng có mặt ở đám hội, thấy vậy động lòng thương, nhân cởi tấm áo cừu gấm trắng, đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho người con gái ấy. Mọi người đều khen quan huyện là một người hiền đức.

Song Từ Thức vốn tính hay rượu, thích đàn, ham thơ, mến cảnh, việc số sách bỏ ùn cả lại thường bị quan trên quở trách rằng:

– Thân phụ thầy làm đến đại thần mà thầy không làm nổi một chức tri huyện hay sao

Từ than rằng:

– Ta không thể vì số lương năm đấu gạo đỏ mà buộc mình trong ảng lợi danh. Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn chẳng phụ gì ta đâu vậy.

Bèn cởi trả ấn tín, bỏ quan mà về. Vốn yêu cảnh hang động ở huyện Tống Sơn, nhân làm nhà tại đấy để ở. Thường dùng một thằng nhỏ đem một bầu rượu, một cây đàn đi theo, mình thì mang mấy quyền thơ của Dào Uyên Minh, hề gặp chỗ nào thích ý thì hí hửng ngả rượu ra uống. Phàm những nơi nước tú non kì như núi Chích Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga, không đâu không từng có những thơ đề vịnh.

(Trích Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Hội Nhà văn, 2018, tr.112-113)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Thể loại của tác phẩm có chứa đoạn trích trên là gì? Vì sao em khẳng định như vậy?

Câu 2. Theo đoạn trích, chức quan của nhân vật Từ Thức là gì? Chàng có phải là một vị quan hết lòng vì dân không? Vì sao?

Câu 3. Trong đám hội xem hoa tưng bừng, tại sao cô gái bị người coi hoa bắt giữ lại?

Câu 4. Theo đoạn trích, nhân vật Từ Thức được giới thiệu là người có tính cách như thế nào?

Câu 5. Em có đồng tình với quan điểm, thái độ của Từ Thức khi trả ấn tín từ quan không? Lý giải điều đó bằng quan điểm của mình.

💡 GỢI Ý TRẢ LỜI:

Câu 1. Thể loại của tác phẩm có chứa đoạn trích trên là gì? Vì sao em khẳng định như vậy?

– Tác phẩm Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên thuộc thể loại truyện truyền kì.

– Có thể khẳng định như vậy vì:

  • Tác phẩm được trích từ Truyền kì mạn lục, một tập truyện truyền kì nổi tiếng của Nguyễn Dữ.
  • Truyện kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo (Từ Thức gặp tiên, lấy vợ tiên, sống ở động tiên…).
  • Thông qua những chi tiết kì ảo, tác giả gửi gắm tư tưởng, quan niệm và bài học về cuộc sống.

Câu 2. Theo đoạn trích, chức quan của nhân vật Từ Thức là gì? Chàng có phải là một vị quan hết lòng vì dân không? Vì sao?

– Chức quan của Từ Thức là Tri huyện Tiên Du.

– Có thể xem Từ Thức là một người có lòng nhân hậu, thương người nhưng chưa phải là mẫu quan lại hết lòng vì công việc trị dân, Vì:

  • Chàng sẵn sàng giúp đỡ cô gái gặp nạn bằng cách cởi áo quý để chuộc lỗi cho nàng, thể hiện tấm lòng nhân ái.
  • Tuy nhiên, chàng không tha thiết với công việc quan trường, “việc sổ sách bỏ ùn cả lại”, thường bị cấp trên quở trách.
  • Chàng yêu tự do, thích ngao du sơn thủy hơn là gắn bó với công việc làm quan.

Câu 3. Trong đám hội xem hoa tưng bừng, tại sao cô gái bị người coi hoa bắt giữ lại?

– Cô gái bị người coi hoa bắt giữ lại vì vô tình vin vào một cành mẫu đơn làm cành hoa bị gãy, nên bị giữ lại để đền bù thiệt hại.

Câu 4. Theo đoạn trích, nhân vật Từ Thức được giới thiệu là người có tính cách như thế nào?

– Qua đoạn trích, Từ Thức hiện lên là người:

  • Nhân hậu, giàu lòng thương người (giúp đỡ cô gái bị bắt giữ).
  • Thanh cao, không màng danh lợi.
    Phóng khoáng, yêu tự do.
  • Ham thơ, thích rượu, mê cảnh đẹp thiên nhiên.
  • Có tâm hồn nghệ sĩ, thích cuộc sống hòa hợp với núi non, sông nước hơn chốn quan trường gò bó.

Câu 5. Em có đồng tình với quan điểm, thái độ của Từ Thức khi trả ấn tín từ quan không? Lý giải điều đó bằng quan điểm của mình.

* Gợi ý trả lời:

– Em vừa đồng tình vừa không hoàn toàn đồng tình với quyết định của Từ Thức.

  • Em đồng tình vì Từ Thức là người sống đúng với sở thích, lí tưởng của bản thân. Chàng không ham danh lợi, không muốn miễn cưỡng gắn bó với công việc mà mình không yêu thích. Điều đó thể hiện bản lĩnh và khát vọng sống tự do.
  • Tuy nhiên, em cũng không hoàn toàn đồng tình vì khi đã nhận trách nhiệm làm quan thì cần tận tâm với công việc, góp phần giúp dân, giúp nước. Nếu những người có tài năng và phẩm chất tốt đều rời bỏ quan trường thì xã hội sẽ thiếu đi những người chính trực để phục vụ nhân dân.

Vì vậy, theo em, mỗi người nên sống đúng với lí tưởng của mình nhưng cũng cần có trách nhiệm với cộng đồng và những nhiệm vụ đã nhận.

ĐỀ BÀI 8:

Đọc văn bản sau:

Như Từ, Từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mẫu biếc. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa số, tiếng thủy triều nghe văng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiều khiến không sao ngủ được.

Một hôm trông ra bế, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam. Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:

– Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biến cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.

Rồi nhân lúc rồi, chàng nói với nàng rằng:

– Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng có héo hon dám xin thế tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?

Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:

– Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chốn làng mây bến nước.

Giáng Hương khóc mà nói:

– Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mỗi lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về nhưng chỉ e liều sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.

Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:

– Không ngờ chàng lại mắc mớ vì mỗi lòng trần như vậy.

Nhân cho một cỗ xe cấm vân để chàng cười về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:

– Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình ngày cũ.

Rồi tràn nước mắt mà chia biệt.

Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thủa nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:

Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi.

Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: “Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tim non tiên ở trên bế dịp khác còn đâu!” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.

(Trích “Từ Thức”, ” Truyền kỳ mạn lục”, bản dịch của Trúc Khê – Ngô Văn Triện. NXB Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TP. HCM, in lại năm 1988)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Khi trở lại chốn cũ quê xưa, Từ Thức thấy những gì?

Câu 2: Tại sao Từ Thức từ chối cuộc sống chốn tiên bồng?

Câu 3: Tạo sao Từ Thức lại mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, sau không biết đi đâu mất?

Câu 4: Chuyện về Từ Thức cho ta bài học gì?

💡 GỢI Ý TRẢ LỜI:

Câu 1: Khi trở lại chốn cũ quê xưa, Từ Thức thấy:

– Khi trở lại chốn cũ quê xưa, Từ Thức thấy: vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thủa nọ.

Câu 2: Từ Thức từ chối cuộc sống chốn tiên bồng bởi:

– Vì ông vẫn còn nặng lòng với quê hương, với những người thân yêu ở trần gian.

Câu 3: Phần cuối truyện, Từ Thức lại mặc áo cửu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, sau không biết đi đâu mất vì: giờ đây những điều quen thuộc với cuộc sống trước đây của chàng đã chẳng còn nữa và vì ông yêu tự do, yêu quê hương sâu sắc mà không màng đến danh lợi.

Câu 4: Chuyện về Từ Thức cho ta bài học:

  • Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên, nơi lưu giữ những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ. Quê hương chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn ta. Là nơi mà chúng ta tìm về để được che chở khói sự xô bồ, ồn ào của xã hội ngoài kia.
  • Cho dù có đi xa tới đâu, có được thưởng thức những của quý, cảnh đẹp ở nhiều nơi khác thì quê hương vẫn sẽ là nơi ấn tượng nhất, nghĩa nhất đối với bản thân mỗi con người.
  • Quê hương là một phần không thể thiếu trong tiềm thức của mỗi người.
  • Phải yêu quý, trân trọng những vẻ đẹp và truyền thống văn hóa của quê hương.

→ Câu chuyện về chàng Từ Thức đã cho ta thấy được bài học về tình yêu quê hương, đất nước. Cho dù có đi xa tới đâu, có được thưởng thức những của quý, cảnh đẹp ở nhiều nơi khác thì quê hương vẫn sẽ là nơi ấn tượng nhất, nghĩa nhất đối với bản thân mỗi con người.

ĐỀ BÀI 9:

Đọc văn bản sau:

Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất cao. Nước cờ của anh chàng không mấy ai trong thiên hạ địch nổi. Bao nhiêu giải cờ trong những hội hè mùa xuân đều về tay anh. Tiếng đồn vang khắp nước, sang đến tận Trung Quốc. Buổi ấy, ở Trung Quốc có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền xách khăn gói sang Nam tìm đến tận nhà tỉ thí. Hai người đọ tài nhau mấy văn liền không phân thua được. Nhưng đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí. Thấy đối phương vò đầu suy nghĩ, Trương Ba kiêu hãnh bảo:
Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng đừng có hòng gỡ nổi.

Bấy giờ Đế Thích là thần cờ đang ngồi trên thiên đình, bồng nghe câu nói hồn xược của Trương Ba xúc phạm đến mình, liền cưỡi mây xuống trần định cho y biết tay. Trương Ba và Kỵ Như đang đánh, chợt có một ông cụ già đến ngồi cạnh bàn cờ. Ông cụ thủng thinh mách cho Kỵ Như mấy nước. Phút chốc bên Kỵ Như chuyến bại thành thẳng. Trương Ba cau có, trong bụng tức giận ông giả ở đâu đến làm cho mình lâm vào thế bí. Nhưng nhìn thấy ông cụ râu tóc trắng xoá, mặt mũi không có vẻ là người trần, chàng chợt hiếu, liền sụp xuống lạy mà rằng: “Ngài hẳn là thần Đế Thích đây rồi, tôi người trần mắt thịt không biết, xin thứ lỗi”. Đế Thích cười bảo: “Ta nghe nhà ngươi tự phụ là cao cờ nên xuống xem cho biết”. Trương Ba liền giữ Đế Thích lại mua rượu, giết gà khoản đãi rất chu tất. Đế Thích tuy mới gặp cũng rất yêu mến Trương Ba. Thấy anh chàng khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo: “Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành. Vậy ta cho một năm hương này, mỗi lần cần đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống”. Nói đoạn, cưỡi mây bay về trời.

(Nguyễn Đổng Chi, Hồn Trương Ba, da hàng thịt)

Câu 1: Những yếu tố nào giúp em biết đoạn trên đây được trích từ bản kế truyện truyền kỳ?

Câu 2: Để đánh dấu lời của các nhân vật trong truyện, đoạn trích đã dùng hình thức trình bày nào?

Câu 3: Ở phần sau của truyện, Đế Thích và Trương Ba sẽ còn gặp nhau. Câu nào trong đoạn trích đã hé lộ điều đó?

Câu 4: Phân tích tính chất kì ảo của một nhân vật trong đoạn trích.

Câu 5: Nếu phải kể lại đoạn trên bằng lời của một trong các nhân vật đã xuất hiện, em sẽ chọn kế theo lời nhân vật nào? Vì sao?

Câu 6: Dựa vào các câu “Buổi ấy, ở Trung Quốc có ông Kỵ Như cũng nối tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền xách khăn gói sang Nam tìm đến tận nhà tỉ thí”, em hãy đoán nghĩa của từ tỉ thí.

Câu 7: Trong câu “Hai người đọ tài nhau mấy ván liên không phân thua được”, em hãy tìm từ khác thay cho từ thua được mà vẫn giữ nguyên nghĩa của câu.

💡 GỢI Ý TRẢ LỜI:

Câu 1: Những yếu tố giúp em biết đoạn trên đây được trích từ bản kế truyện truyền kỳ:

Câu mở đầu nói về sự việc xảy ra vào thời quá khứ xa xưa, thời gian không xác định: Ngày xưa…

Nhân vật được giới thiệu ngay ở câu đầu: Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất cao.

– Sự xuất hiện của những yếu tố có tính chất kì ảo (thần cờ Đế Thích trên thiên đình cưỡi mây xuống trần, Đế Thích cưỡi mây về trời).

– Có chi tiết gợi trí tò mò của người đọc, người nghe (lời dặn của Đế Thích khi từ biệt Trương Ba để về thiên đình).

Câu 2: Để đánh dấu lời của các nhân vật trong truyện, đoạn trích đã dùng hình thức trình bày:

Trong đoạn trích, người viết văn bản đã dùng hai hình thức trình bày để giúp người đọc nhận ra lời nhân vật:

– Hình thức thứ nhất: Sau lời dẫn của người kể chuyện, dùng dấu hai chấm, xuống dòng, gạch đầu dòng, ghi lời của nhân vật.

– Hình thức thứ hai: Sau lời dẫn của người kể chuyện, dùng dấu hai chấm, mở ngoặc kép, ghi lời của nhân vật.

Câu 3: Ở phần sau của truyện, Đế Thích và Trương Ba sẽ còn gặp nhau. Câu trong đoạn trích đã hé lộ điều đó là:

– Để nhận biết khả năng Trương Ba gặp lại Đế Thích ở phần sau của truyện, em cần chú ý chỉ tiết: Thấy anh chàng khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo: “Ta thấy nhờ ngươi có bụng chân thành. Vậy ta cho một năm hương này, mỗi lần cần đến ta thì tháp lên một cây, ta sẽ xuống”. Trong truyện cổ tích, những vật lạ như nằm hương của Đế Thích bao giờ cũng phát huy tác dụng. Và quả đúng như thế. Nếu em đọc hết truyện sẽ biết rằng: Sau này, Trương Ba chết đột ngột, bà vợ dọn dẹp nhà cửa, thấy nằm hương mà Trương Ba đã cất, thắp lên trước bàn thờ của chồng, Đế Thích liền bay từ trời xuống hỏi có chuyện gì.

Câu 4: Tính chất kì ảo của một nhân vật trong đoạn trích:

– Trong đoạn trích, tính chất kì ảo được thể hiện ở nhân vật Đế Thích. Đây là nhân vật thần linh (gọi là thần cờ), ngự trên thiên đình, có khả năng nghe được tiếng nói của con người ở hạ giới, có thế cười mây xuống trần, thoắt ẩn thoắt hiện, có loại hương đặc biệt (tặng Trương Ba một năm, hẻ muốn gặp Đế Thích thì thắp lên một cây). Những chi tiết lạ lùng, huyền ảo này hoàn toàn không có thực trong đời sống. Đó là kết quả sự thêu dệt bằng trí tưởng tượng phong phú của dân gian mà thôi.

Câu 5: Nếu phải kể lại đoạn trên bằng lời của một trong các nhân vật đã xuất hiện, em sẽ chọn kế theo lời nhân vật:

Trong đoạn trích có ba nhân vật: Trương Ba, Kỵ Như và Đế Thích. Trong đó, Kỵ Như và Đế Thích xuất hiện sau, không biết được tường tận về Trương Ba. Do đó, chọn Trương Ba làm nhân vật kế chuyện là phù hợp nhất.

Câu 6: Dựa vào các câu “Buổi ấy, ở Trung Quốc có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền xách khăn gói sang Nam tìm đến tận nhà tỉ thí”, em giải đoán nghĩa của từ “tỉ thí” như sau:

– Từ “tỉ thí” nếu đứng riêng, có thể em chưa hiểu nghĩa của nó. Nhưng dựa vào các câu “Buổi ấy, ở Trung Quốc có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền xách khăn gói sang Nam tìm đến tận nhà tỉ thí” ta có cơ sở để đoán “tỉ thí” là đầu với nhau (ở đây là đánh cờ) để phân định người thẳng người thua.

Câu 7: Trong câu “Hai người đọ tài nhau mấy ván liền không phân thua được”, từ “thua” được có thể thay bằng “thắng bại” hoặc “hơn thua”. Thay từ như thế, nghĩa của câu vẫn không thay đổi.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang