Soạn bài: Buổi tiễn đưa (Ngữ văn 9, tập 1, Kết nối tri thức)
Trước khi đọc
Câu 1: Đầu thế kỉ XVIII, nhiều cuộc chiến đã xảy ra trên đất nước ta. Hãy nêu một cuộc chiến mà em biết.
Trả lời:
– Chiến tranh Trịnh – Nguyễn: Chiến tranh giữa hai thế lực Trịnh và Nguyễn xảy ra từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18, tạo ra một giai đoạn đặc biệt khó khăn trong lịch sử Việt Nam
Câu 2: Theo em, những cuộc tiễn đưa trong chiến tranh có gì khác biệt so với tiễn đưa trong hoàn cảnh bình thường của cuộc sống?
Trả lời:
– Nếu tiễn đưa trong hoàn cảnh bình thường: đi học xa nhà, đi xuất khẩu lao động… thì người nhà sẽ xác định được ngày về và vẫn liên lạc thường xuyên, không có nguy hiểm gì đến tính mạng. Còn trong hoàn cảnh chiến tranh, những cuộc tiễn đưa cũng có thể là lần gặp mặt cuối cùng khi trong chiến tranh việc hi sinh là chuyện hết sức bình thường, xảy ra rất nhiều. Người thân không thể biết bao giờ họ về, một khi đi là rất khó liên lạc, không thể biết được điều gì đang xảy ra với người thân.
Trong khi đọc
Câu 1: Những chi tiết miêu tả người chinh phu lúc chuẩn bị lên đường
Trả lời:
Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn
…lòng bận thê noa
Sầu lên ngọn ải…
→ Người chinh phu lúc chuẩn bị lên đường trên lưng đeo cung tên (vũ khí để chiến đấu) nhưng trong lòng là những cảm xúc bịn rịn, luyến tiếc với vợ, con; sầu thương khi nghĩ đến chiến trường.
Câu 2: Khát vọng của người chinh phu.
Trả lời:
– Khát vọng của người chinh phu:
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiêng theo việc đao cung
Thành liền mong tiến bệ rồng…
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa…
Giã nhà đeo đức chiến bào…
→ Người chinh phu mang sức trẻ, sự nhiệt huyết trách nhiệm, tinh thần hào kiệt ra chiến trường chiến đấu vì đất nước. Chàng cất giấy bút, đồ học tập để mang lên vũ khí chiến đấu, quyết tâm tung hoành ngang dọc không ngại hiểm nguy mới xưng đáng làm trai.
Câu 3: Tâm trạng của người chinh phụ.
Trả lời:
– Tâm trạng:
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn…
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay
Bước đi một dây dây lại dừng.
→ Trước sự việc phải tiễn đưa người chồng ra chiến trường, người chinh phụ mang nặng tâm trạng buồn bã, nỗi buồn khôn nguôi. Dặn dò, khuyên nhủ chàng đủ điều, mãi vẫn còn vương vấn quyến luyến không nỡ rời xa.
Câu 4: Các chi tiết gợi liên tưởng đến binh đao.
Trả lời:
– Các chi tiết:
- Múa gươm rượu tiễn…
- Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo…
- Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống…
→ Gợi liên tưởng đến binh đao đến chiến tranh.
Câu 5: Cảnh li biệt của người chinh phu, người chinh phụ.
Trả lời:
– Nơi chia tay: Hà lương chia rẽ đường này
→ Cây cầu bắc qua sông đã chia rẽ hai vợ chồng.
– Khung cảnh: Bên đường trông bóng cơ bay… Đội quân đã sẵn sàng chờ đợi người chồng hòa nhập và xuất phát đến quân doanh xa xôi.
– Tâm trạng: Người vợ đau đớn vô cùng, xót xa, lòng như cắt thành từng khúc ruột khi phải rời xa người chồng mà không biết bao giờ mới gặp lại.
Câu 6: Cảm xúc của người chinh phu, người chinh phụ sau lúc chia li
Trả lời:
– Sau lúc chia li, người chồng phải đi theo đội quân để tiến về phía địch còn người vợ quay trở về nhà. Tuy vậy nhưng hai người vẫn muốn quay lại nhìn người thương yêu của mình, nhưng đoạn đường đã quá xa rồi không còn thấy nhau đâu nữa.
Sau khi đọc
Câu 1: Chỉ ra những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong đoạn trích Buổi tiễn đưa. Những đặc điểm này cho thấy thể thơ song thất lục bát có gì khác với thể thơ lục bát?
Trả lời:
– Đặc điểm của thể thơ song thất lục bát là:
- Cấu tạo bằng hai cặp câu 7 tiếng, tiếp đến là cặp câu lục bát (6 tiếng và 8 tiếng).
- Nhạc điệu: lên bổng xuống trầm linh hoạt.
– Điểm khác nhau:
- Các tiếng trong một câu thơ.
- Giọng điệu: Thể thơ lục bát sẽ có sự du dương mềm mại hơn còn song thất lục bát vì có sự kết hợp của thể thơ thất ngôn cho nên sẽ có sự trầm bổng linh hoạt hơn.
Câu 2: Đề xuất phương án ngắt nhịp bốn câu thơ sau và cho biết tác dụng của cách ngắt nhịp đó:
Ngồi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Trả lời:
* Ngắt nhịp:
- 2 câu thất (song thất): 3/4
- Câu lục: 2/4
- Câu bát: 4/4
* Tác dụng:
– Thể hiện rõ hành động, tâm sự cùng những sự vật xung quanh trong hoàn cảnh tiễn chồng đi chiến đấu. Làm các câu thơ thêm sinh động và hấp dẫn.
Câu 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của phép đối được sử dụng ở một số câu thơ trong đoạn trích.
Trả lời:
– Phép đối:
- Ngòi đầu cầu…Đường bên cầu…
- Nước có chảy…Cỏ có thơm…
- Lòng thiếp…Dạ chàng…
– Tác dụng: Thể hiện hình ảnh có đôi có cặp, hai tấm lòng đều hướng về nhau nhưng lại phải rời xa nhau. Đồng thời làm cho các câu thơ thêm gắn kết, hấp dẫn người đọc hơn.
Câu 4: Theo em người chinh phụ có thực sự muốn lên đường ra trận hay không? Những chi tiết nào cho biết điều đó?
Trả lời:
– Theo em, dù rất thương vợ con nhưng người chinh phụ thực sự muốn lên đường. Điều này thể hiện rất rõ qua các hình ảnh:
+ “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu.”
Câu 5: Tiễn chồng ra trận, người chinh phụ mong muốn điều gì? Theo em, vì sao “đưa chàng lòng dằng dặc buồn” nhưng người chinh phụ vẫn để chồng lên đường ra trận?
Trả lời:
– Người chinh phụ mong muốn người chồng không đi ra chiến trường nữa mà ở nhà chăm sóc gia đình.
– Tuy nhiên người chinh phụ vẫn để chồng ra trận vì người phụ nữ thời xưa không có quyền lên tiếng với những quyết định quan trọng của gia đình. Lí do thứ hai là tôn trọng quyết định của chồng, người chồng rất muốn thực hiện chí làm trai, muốn đứng lên chiến đấu bảo vệ đất nước, không muốn chỉ ở nhà vùi đầu vào sách vở. Cho nên người vợ dù rất buồn nhưng vẫn để chồng đi thực hiện ước muốn của bản thân
Câu 6: Nêu và phân tích tác dụng của một số biện pháp tu từ được sử dụng trong bốn câu thơ cuối của đoạn trích.
Trả lời:
– Biện pháp tu từ sử dụng:
- Phép đối: “Lòng chàng ý thiếp…”
- Câu hỏi tu từ: “…ai sầu hơn ai?”
- Lặp từ: “ngàn dâu”
– Tác dụng: Bốn câu thơ cuối để kết lại đoạn thơ, như một khúc ngâm lên về tâm trạng ai oán, buồn khổ của nhân vật trữ tình khi đã chính thức rời xa nhau. Họ dù có ngoảnh lại về phía nhau cũng không thể nhìn thấy người kia nữa. Không thể xác định được ai sầu hơn ai, vì nỗi buồn của ai cũng nhiều.
Câu 7: Cảm xúc của người chinh phụ và người chinh phu trong buổi tiễn đưa giúp em hiểu gì về giá trị của cuộc sống?
Trả lời:
Khúc ngâm đã vang lên tiếng nói đến từ lòng trắc ẩn của người chinh phụ. Để lại cho đời tác phẩm có sức cuốn hút, cái nhìn về tâm tình người phụ nữ xưa phải hy sinh hạnh phúc riêng mình, rời xa người mình yêu vì chiến tranh. Một khúc ngâm về tình yêu, về sự chia ly và về lý tưởng to lớn của cuộc sống thời xưa.
Câu 8: Em có ấn tượng nhất với hình ảnh nào trong đoạn trích? Vì sao?
Trả lời:
– Hình ảnh ấn tượng:
“Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San.”
– Em thích vì: Tấm lòng của người chinh phụ được soi như ánh trăng để có thể dõi theo từng bước người mình thương, bên người chồng luôn mong “tìm cõi Thiên San”, lập được những chiến công vang dội.
* Viết kết nối với đọc
Bài tập 1: Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích tâm trạng của người chinh phu khi chia tay vợ để ra trận
Đoạn văn:
Trong văn học Việt Nam, nỗi sầu chia li đã được nhiều tác giả quan tâm và phản ánh. Nhưng có lẽ, chưa có nỗi sầu nào bi thương bằng nỗi sầu chia li của người chinh phụ được diễn tả trong Chinh phụ ngâm khúc. Không chỉ có người chinh phụ nổi bật trong đoạn trích mà tâm trạng của người chinh phu cũng thể hiện rất rõ ràng. Người chinh phu mang trong mình những khát vọng to lớn tuy tuổi còn trẻ lại “vốn dòng hào kiệt” tài giỏi mà mang biết bao chiến công hiển hách mà phải gác lại việc học hành mà cầm đao ra trận. Có thể hạ nhiều thành, phá tan bao thế giặc mạnh muốn lăm le cướp lấy ngôi báu. Với ý chí của chàng thì mọi việc khó khăn cũng chỉ nhẹ tựa lông hồng. Từ biệt gia đình, khoác lên “chiến bào” cũng vì nghĩa lớn. Khát vọng lớn lao vì nước mà quên thân. Tiếng sáo bắt đầu thổi báo hiệu đoàn bắt đầu ra trận, cùng với những hàng cờ bay lòng người chinh phụ lại nặng đầy cảm xúc sau chia li. Hình bóng người chinh phu cứ xa dần thì người chinh phụ lại ngẩn ngơ dõi theo nơi nhà. Sự đối lập giữa nơi chàng “mưa gió” nơi thiếp thì “chiếu chăn” khoảng cách với những vách ngăn xa xôi rẽ đôi. Nơi người chồng thì ngoảnh lại “Hàm Kinh”, chốn kinh đô, còn nàng ở lại thì trông bến “Tiêu Tương”, nơi với những đau đớn, giọt nước mắt. Dù cho hai người có chông lại phía nhau cũng chẳng thể thấy thể hiểu.
Bài tập 2: Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích tâm trạng của người chinh phụ thể hiện trong bốn câu thơ sau:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn văn 1:
Bốn câu thơ trên trong bài thơ Chinh phụ ngâm đã diễn tả được những tâm trạng của người chinh phụ khi tiễn người chinh phu ra chiến trường ác liệt. Ở hai câu thơ đầu: “Chàng thì đi cõi xa mưa gió,/ Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn” như đang lột tả khoảng cách về địa lí, nơi chốn của hai vợ chồng, đồng thời còn là tiếng kêu xót xa, ai oán, cô đơn của người chinh phụ. Nàng đau khổ, lo lắng khi chồng mình đang ở nơi “cõi xa mưa gió”, gặp muôn trùng khó khăn. Nàng còn tự tủi cho bản thân khi phải trở về nơi mà hai người từng hạnh phúc, nhưng giờ trở thành “buồng cũ chiếu chăn”. Phép đối tài tình trong hai câu thơ đã làm sự trái ngược, cách xa của hai người càng nhiều hơn. Mặc dù xa mặt, nhưng người chinh phụ không xa lòng: “Đoái trông theo đã cách ngăn,/ Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh”. Nàng luôn nhìn về nơi “cõi xa ấy”, nhìn qua “mây biếc”, “núi xanh” để được thấy chồng. Thiên nhiên hùng vĩ, hay tượng trưng cho sự cách ngăn giữa người chinh phu và người chinh phụ, không khiến nàng bồi hồi mong nhớ về chồng. Qua từng câu chữ, sử dụng phép đối, phép ẩn dụ điêu luyện, nhà thơ đã thay cho tiếng nói của người chinh phụ cất lên cảm xúc đau đớn, bi thương, nhớ nhung qua bốn câu thơ trên.
Đoạn văn 2:
Bốn câu thơ đã diễn tả sâu sắc tâm trạng của người chinh phụ trong cảnh tiễn chồng ra trận. Trước hết, đoạn thơ thể hiện nỗi buồn chia ly và sự cô đơn của người chinh phụ khi phải xa người chồng yêu thương. Trong khi người chồng lên đường đến nơi “cõi xa mưa gió” đầy gian khổ, hiểm nguy thì người vợ chỉ biết trở về “buồng cũ chiếu chăn” với cuộc sống lẻ loi, trống vắng. Sự đối lập ấy làm nổi bật hoàn cảnh éo le và nỗi đau của người ở lại. Bên cạnh đó, đoạn thơ còn thể hiện nỗi nhớ thương da diết của người chinh phụ dành cho chồng. Dõi mắt “đoái trông theo”, nàng mong được nhìn thấy bóng dáng người chồng thêm một lần nữa, nhưng khoảng cách ngày càng xa khiến nỗi nhớ càng thêm khắc khoải. Thành công của đoạn thơ trước hết nằm ở nghệ thuật đối lập trong hai câu đầu với các cặp hình ảnh “chàng – thiếp”, “đi – về”, góp phần nhấn mạnh sự chia lìa của đôi lứa. Bút pháp tả cảnh ngụ tình qua hình ảnh “mây biếc”, “núi xanh” đã biến thiên nhiên thành bức tranh mang màu sắc tâm trạng, gợi khoảng cách xa xôi và nỗi buồn vô tận của người chinh phụ. Qua đó, đoạn thơ làm nổi bật chủ đề về nỗi đau của người phụ nữ có chồng ra trận trong xã hội phong kiến. Đồng thời, tác giả cũng bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với số phận người chinh phụ và kín đáo lên án chiến tranh phi nghĩa đã gây nên những cảnh chia ly đau đớn. Đoạn thơ gửi đến người đọc thông điệp về giá trị của hạnh phúc lứa đôi và khát vọng được sống trong hòa bình, đoàn tụ.

