Suy nghĩ về nhận định: “Sức mạnh lớn nhất của câu thơ là sức gợi” (Nguyễn Đình Thi)
Dàn bài chi tiết:
I. MỞ BÀI:
– Giới thiệu vấn đề: Thơ là tiếng nói tâm hồn, là nơi con người gửi gắm cảm xúc, tình cảm và suy tưởng sâu kín nhất. Mỗi câu thơ hay không chỉ đẹp ở âm điệu, hình ảnh mà còn ở khả năng khơi gợi vô vàn liên tưởng, cảm xúc nơi người đọc.
– Dẫn nhận định của Nguyễn Đình Thi: Bàn về thơ ca, nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng khẳng định: “Sức mạnh lớn nhất của câu thơ là sức gợi”.
– Nêu ý nghĩa nhận định: Câu nói thể hiện một quan niệm sâu sắc về bản chất ngôn ngữ thơ: cái hay của câu thơ nằm ở khả năng mở ra một không gian liên tưởng vượt ra ngoài câu chữ.
II. THÂN BÀI:
1. Giải thích nhận định
– Câu thơ: Là một đơn vị cơ bản trong cấu trúc thơ trữ tình, thường gồm một dòng thơ hoặc một cặp câu (trong thơ lục bát) → Câu thơ hay là câu giàu giá trị thẩm mỹ, chứa đựng tư tưởng, tình cảm sâu sắc và tạo được khoái cảm nghệ thuật cho người đọc.
– Sức gợi: Khả năng vượt ra khỏi giới hạn câu chữ để khơi mở những tầng nghĩa, hình ảnh, cảm xúc mới mẻ → Ngôn ngữ thơ vốn cô đọng, hàm súc, tinh luyện; ý thường “tại ngôn ngoại” – nằm ngoài câu chữ, buộc người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng.
– Ý nghĩa nhận định: Đề cao vai trò của nghệ thuật biểu đạt trong thơ, khẳng định tài năng và sáng tạo của người cầm bút.
2. Bình luận về nhận định
– Đặc trưng của thơ ca.
- Là thể loại thuộc phương thức trữ tình, giàu cảm xúc, dùng hình tượng nghệ thuật để bộc lộ tâm trạng.
- Dung lượng ngắn, cảm xúc tập trung, mỗi từ ngữ được cân nhắc kỹ lưỡng để vừa chính xác vừa giàu biểu cảm.
– Vai trò của sức gợi trong thơ.
- Giúp tác phẩm vượt khỏi giới hạn của ngôn từ, mở ra không gian cảm xúc và suy tưởng phong phú.
- Tạo điều kiện cho người đọc đồng sáng tạo, tìm ra những lớp nghĩa mới.
– Ngôn ngữ thơ – ngôn ngữ của hình ảnh, biểu tượng.
- Không truyền đạt trực tiếp như văn xuôi mà khơi gợi qua tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng.
- Giữa các câu thơ thường có khoảng trống nghệ thuật, để người đọc chủ động lấp đầy bằng trí tưởng tượng.
– Tính chọn lọc và sáng tạo của ngôn ngữ thơ.
- Mỗi câu thơ phải là kết quả của sự tìm tòi công phu, vừa tuân thủ ngữ pháp vừa mang dấu ấn cá nhân.
- Ngôn ngữ chân chất, giản dị nhưng tinh luyện mới có thể chạm tới cảm xúc sâu nhất.
– Nguy cơ khi thiếu sức gợi.
- Cố ý trau chuốt ngôn từ quá mức dễ rơi vào “làm duyên làm dáng” hoặc vị nghệ thuật thuần túy, mất đi sự chân thành.
- Có tứ thơ mới lạ nhưng vốn ngôn ngữ nghèo nàn cũng khó tạo ra thơ hay.
3. Chứng minh nhận định
* Truyện Kiều – Nguyễn Du
– Nhiều câu thơ không chỉ đẹp ở hình ảnh mà còn mở ra cả một thế giới cảm xúc, ví dụ: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” → gợi ra mối liên hệ giữa tâm trạng con người và cảnh vật, mở rộng thành triết lý sống.
– Cái hay nằm ở sự “hé lộ” vừa đủ, khiến người đọc tự hoàn thiện bức tranh tâm trạng.
* Tây Tiến – Quang Dũng
– Câu thơ: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!” → không tả cụ thể nhưng gợi cả một miền ký ức, nỗi nhớ trào dâng.
– Các hình ảnh “dáng kiều thơm”, “mắt trừng gửi mộng”… không chỉ tả thực mà còn gợi cả khí chất, lý tưởng của người lính.
4. Mở rộng – nâng cao
– Đối với người sáng tác:
- Viết được câu thơ giàu sức gợi đòi hỏi tài năng, vốn sống, vốn ngôn ngữ và tâm huyết sáng tạo.
- Cần xem việc làm thơ như một quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc.
– Đối với người thưởng thức
- Đọc thơ không chỉ để hiểu nghĩa đen mà cần cảm nhận những gì câu thơ gợi mở qua nhịp điệu, hình ảnh, biểu tượng.
- Tính đa dạng của cảm thụ: Mỗi độc giả có cách liên tưởng, tưởng tượng khác nhau; tiêu chí đánh giá thơ hay vì thế không thể tuyệt đối, cứng nhắc.
- Ý nghĩa của sức gợi: Mỗi từ, mỗi chữ khi được đặt đúng chỗ sẽ tỏa ra một “vùng ánh sáng” cảm xúc, đúng như Nguyễn Đình Thi nói – đó là sức mạnh lớn nhất của thơ.
III. KẾT BÀI:
– Khẳng định lại vấn đề: Nhận định của Nguyễn Đình Thi là đúng đắn và sâu sắc, phản ánh bản chất ngôn ngữ thơ ca.
– Liên hệ bản thân: Người sáng tác cần trau dồi vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng quan sát để tạo nên những câu thơ giàu sức gợi. Người đọc cần mở rộng trí tưởng tượng, thả mình vào mạch cảm xúc để đồng sáng tạo cùng tác giả.
Bài văn tham khảo:
Nguyễn Đình Thi từng nói: “Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy.” Câu nói ấy đã chạm đến cốt lõi của thơ – sức gợi. Trong thế giới văn chương, câu thơ hay không chỉ đẹp ở hình thức, tinh tế ở cấu tứ, mà còn phải giàu khả năng mở ra những tầng nghĩa mới, khơi dậy trong người đọc những liên tưởng, tưởng tượng và rung động vượt khỏi giới hạn của ngôn từ. Sức gợi ấy chính là linh hồn khiến thơ sống lâu trong tâm trí con người.
Một câu thơ là một đơn vị trong tổ chức của bài thơ trữ tình, là một tổ chức ngôn từ để hình thành ý thơ, thường là một dòng hoặc hai dòng (thơ lục bát); câu thơ hay muốn nói đến câu thơ có sự đặc sắc, thú vị, giàu giá trị thẩm mĩ, có thể đem lại khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt cho người đọc; sức gợi muốn nói đến sự mở rộng khả năng thể hiện ra ngoài giới hạn của ngôn từ. Thơ và ngôn ngữ thơ phải cô động, giàu sức biểu hiện, sự tìm tòi công phu, cân nhắc kĩ lưỡng, chọn lọc có sáng tạo của nhà thơ với phương tiện phong phú và biến hóa. Câu nói là nhận định đúng đắn, sâu sắc, đề cao nghệ thuật thể hiện và ý tưởng sáng tạo của người nghệ sĩ.
Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú; thơ được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau, nhưng dù thuộc loại hình nào thì yếu tố trữ tình vẫn giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm. Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này.
Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch). Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết tấu… Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngôn ngoại”. Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ.
Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữ hình ảnh, biểu tượng. Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên. Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong.
Mỗi câu thơ đọc lên cảm giác như được viết ra một cách rất tự nhiên, nhưng thực ra đều có sự cân nhắc thích hợp với từng đối tượng và từng trạng thái tình cảm. Ngôn ngữ thơ ca đòi hỏi sự chọn lọc chính xác tinh tế và có sáng tạo. Thông qua sự chọn lọc này, nhà thơ vừa phải tuân thủ một cách đầy đủ những quy tắc của ngôn ngữ đời sống lại vừa thể hiện tính chất chủ động trong sáng tạo
Những cách sử dụng ngôn ngữ có chọn lọc và sáng và sáng tạo mới đem lại cho ngôn ngữ thơ ca nhiều phẩm chất đáng quý. Ngôn ngữ chân chất, mộc mạc nhưng vô cùng trong sáng của thơ ca đã kết tụ lại ở những câu ca chứa chan thi vị và giàu sức biểu hiện.
Đọc câu thơ hay ta như không còn thấy câu chữ nữa. Cái hay nằm trong sự giản dị. Nếu cố làm duyên làm dáng, điểm phấn tô son, đánh bóng ngôn từ sẽ sa vào xu hướng “vị nghệ thuật” thuần túy. Mây gió, cỏ hoa xinh tươi đến đâu hết thảy cũng đều từ trong lòng người nảy ra (Ngô Thời Nhậm). Có xúc cảm tốt, tìm được tứ thơ mới lạ nhưng nếu vốn ngôn ngữ nghèo nàn thì khó có được thơ hay.
Một câu thơ hay là một câu thơ giàu sức gợi (Lưu Trọng Lư). Thực tế cho thấy, những câu thơ hay là kết quả của sự chân chất, mộc mạc nhưng trong sáng, tránh cầu kỳ tô vẽ quá mức. Như Ngô Thời Nhậm từng nói: “Mây gió, cỏ hoa xinh tươi đến đâu hết thảy cũng đều từ trong lòng người nảy ra.” Cảm xúc chân thành và tứ thơ mới lạ sẽ chỉ thực sự trở thành thơ hay khi được nâng đỡ bằng vốn ngôn ngữ phong phú và sức gợi sâu xa.
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, sức gợi thể hiện rõ ở những câu thơ giàu tính “hé lộ”:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Không chỉ là tả cảnh, hai câu thơ mở ra cả một triết lý về mối liên hệ giữa tâm trạng và thế giới xung quanh. Người đọc không chỉ thấy cảnh vật mà còn thấy cả nỗi buồn trải dài trong tâm hồn Kiều.
Trong Tây Tiến, Quang Dũng dùng sức gợi để khắc họa nỗi nhớ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Từ “chơi vơi” gợi ra một nỗi nhớ không bờ bến, vừa thực vừa mơ, vừa xa xăm vừa day dứt. Đó là cái hay không chỉ nằm ở nghĩa của từ mà còn ở âm hưởng, nhịp điệu, và khoảng trống cảm xúc mà nó để lại cho người đọc tự lấp đầy.
Sáng tác được những câu thơ giàu sức gợi là tài năng, tâm huyết của nhà thơ. Người cầm bút phải từ đặc trưng này của thơ mà làm thơ như mọt hoạt động sáng tạo công phu và nghiêm túc, viết nên những vần thơ giàu giá trị nghệ thuật, diễn tả được những tình cảm tinh tế, mãnh liệt, lắng sâu.
Người đọc thơ cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu, các biện pháp tu từ… nhưng quan trọng nhất là sự liên tưởng, suy tưởng, cảm thụ… những điều mà nhà thơ gợi ra trong quá trình cảm thụ thơ.
Tiêu chí một câu thơ, một bài thơ hay vốn không phải mang tính quy ước, bất biến. Mỗi nhà thơ, mỗi người cảm thụ có “gu” và thiên hướng riêng, bởi vậy, cũng không nên cứng nhắc, khuôn mẫu trong việc đánh giá, nhận định về thơ…
Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là sức gợi ấy.
Bằng cách diễn đạt hình ảnh rất cụ thể và sinh động, Nguyễn Đình Thi đã nhấn mạnh và làm nổi bật một đặc trưng bản chất của thơ ca: ngôn ngữ trong thơ, vấn đề chữ và nghĩa. Tác giả vừa khẳng định vừa cắt nghĩa, lí giải sức mạnh lớn nhất của thơ nằm ở sức gợi.
Ngôn từ là chất liệu, nhưng sức gợi mới là linh hồn của câu thơ hay. Một câu thơ thành công là câu thơ nói ít mà gợi nhiều, để lại dư âm lâu dài trong lòng người đọc. Bài thơ hay là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo có khả năng làm sống dậy trong lòng người đọc những liên tưởng phong phú. Chính sức gợi ấy làm nên sự bất tử của thơ, khiến những câu thơ của Nguyễn Du, Quang Dũng hay bao thi nhân khác vẫn sống mãi cùng năm tháng, như những dòng suối mát lành chảy mãi trong tâm hồn nhân loại.