Đọc văn bản sau:
TỰ TRÀO
Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc không còn nước (1),
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng (2)
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng (3)
(Nguyễn Khuyến Thơ và đời, Nguyễn Khuyến, NXB văn học, 2012, tr .46)
Chú thích:
(1) Ý cả câu: Ý nói thời cuộc diễn biến dở chừng mà nước đã mất, bế tắc như cờ bí nước.
(2) Ý cả câu: Ý nói chưa trọn cuộc đời làm quan đã bỏ về ở ẩn, như con bạc chạy làng.
(3) Theo chế độ thi cử thời xưa, những người đỗ tiến sĩ được ghi họ tên lên bảng vàng và khắc tên vào bia đá.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể thơ của bài Tự trào và nêu một đặc điểm hình thức nổi bật của thể thơ đó được thể hiện trong bài.
Câu 2. Phân tích ý nghĩa của các cụm từ phủ định trong hai câu thơ đầu:
“Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng”
Qua đó, tác giả muốn khắc họa hình ảnh con người như thế nào?
Câu 3. Hình ảnh “cờ” và “bạc” trong hai câu thơ:
“Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng”
được sử dụng theo biện pháp tu từ nào? Nêu ý nghĩa biểu đạt của những hình ảnh này.
Câu 4. Chỉ ra và phân tích giọng điệu của hai câu thơ:
“Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang”
Giọng điệu ấy góp phần thể hiện thái độ gì của tác giả đối với bản thân?
Câu 5. Câu thơ “Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ” cho thấy trạng thái tâm lí nào của nhân vật trữ tình? Vì sao có thể coi đây là câu thơ mang tính tự trào rõ nét?
Câu 6. Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa mỉa mai trong câu thơ cuối:
“Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng”
Qua đó, hãy nhận xét thái độ của Nguyễn Khuyến đối với danh vọng và con đường khoa cử.









