Đọc hiểu truyện trinh thám – Lớp 9

doc-hieu-truyen-trinh-tham-lop-9

Bộ đề đọc hiểu truyện trinh thám lớp 9 đầy đủ, chi tiết nhất

ĐỀ BÀI 1: Bí mật lâu đài cổ Shoscombe (trích Thám tử Sherlock Holmes)

Đọc ngữ liệu sau:

Bí mật lâu đài cổ Shoscombe

(Lược trích một phần: Một hôm, Mason, một huấn luyện viên ngựa ở công viên Shoscombe đến tìm Holmes nhờ giúp đỡ. Chủ của ông là Robert, người có đam mê đua ngựa, sống nhờ trong lâu đài cổ Shoscombe của người chị gái – phu nhân Phalder. Phu nhân rất thương em trai, ngày ngày khi đi dạo, phu nhân sẽ ghé để thăm ngựa và động viên em. Robert đặt cược tất cả gia tài vào con Hoàng tử, thậm chí cắm cả lâu đài Shoscombe cho các chủ nợ Do Thái. Khoảng 1 tuần nay phu nhân không ghé thăm chuồng ngựa dù thỉnh thoảng bà vẫn đi dạo trên xe ngựa, Robert cáu gắt dẫn con chó giống quý hiếm của chị tới cho lão Barnes, chủ quán ăn “Con Rồng Xanh”. Đêm đêm lão còn xuống hầm mộ gần lâu đài hàng tiếng đồng hồ. Qua theo dõi, Mason còn thấy trong hầm mộ có bộ xương khô. Holmes và cộng sự đã tới Shoscombe, trọ và tìm cách tiếp cận lão Barnes)

Sau khi ông chủ quán rời chúng tôi, Holmes nói với tôi:

– Trong tay chúng ta chỉ có vài lá bài, Watson à. Ván bài này không phải dễ chơi đâu. Nhưng trong một hai ngày, chúng ta có thể tìm ra đầu mối. Tôi tin rằng ngài Robert vẫn còn ở Luân Đôn. Tôi đề nghị tối nay chúng ta chui vào vùng cấm địa. Có vài chi tiết tôi muốn rà soát lại.

– Anh có giả thiết rồi à?

– Sơ sơ như vầy, Watson à. Một chuyện đã xảy ra cách đây khoảng tám ngày, làm xáo trộn sinh hoạt tại lâu đài Shoscombe. Chuyện gì à? Này, hãy xét lại người em chấm dứt việc thăm viếng người chị tật nguyền, ông ấy tống khứ con chó mà bà chị cưng. Con chó thuộc quyền sở hữu của bà ấy, Watson! Anh có thấy gì lạ không?

– Thù vặt thôi?

– Có thể. Hoặc là… ờ… tôi lại thấy… Ta hãy nghiên cứu lại tình hình. Từ lúc cãi lộn cứ tạm cho là có đi, mệnh phụ đổi thói quen, ở mãi trong phòng, có ra đi thì không ghé thăm chuồng ngựa nữa, rõ ràng nhất là đâm ra uống rượu. Nào, khớp nhau trăm phần trăm chưa.

– Còn chuyện ở nhà mồ…

– À còn cái nhà mồ dưới đất! Giả thiết rằng… đó là giả thiết động trời rằng… Ngài Robert thanh toán chị ruột mình?

– Chuyện gì động trời vậy?

– Đành rằng, ngài thuộc thế gia vọng tộc. Nhưng trong một đàn cừu, biết đâu lại chẳng có một con chiên ghẻ… Anh có ý kiến gì, Watson?

– Một khi mà anh chọn giả thiết kinh khiếp như vậy thì chuyện gì lại không được

– Tôi định làm một thí nghiệm nhỏ vào ngày mai, Watson à.

Khoảng một hai giờ, chúng tôi đi dạo một vòng và anh xin được chủ quán cho dẫn theo con chó tinh khôn.

– Đây là vùng tử địa – Holmes nói. Khi chúng tôi tới trước cái cổng hai lớp song sắt có gắn huy hiệu của một dòng họ quý tộc. – Ông Barnes có cho biết, khoảng 12 giờ, bà mệnh phụ sẽ dùng ngựa đi dạo, và khi tới cổng, xe phải chạy chậm để chờ mở cổng. Xe chạy chậm lại, ngựa đi từng bước. Nhờ đó tôi có thể quan sát kỹ người trên xe. Một thiếu phụ trẻ, thân hình đều đặn, tóc vàng, ngồi bên trái. Bên phải là một bà lão, khăn choàng che khuất mặt và tai. Chắc chắn là một bà lão tật nguyền. Khi xe ra đường cái tôi ra hiệu lệnh. Xà ích ngừng xe lại. Tôi hỏi thăm ngài Robert.

Cùng lúc đó, Holmes rời nơi ẩn nấp, thả con chó trung thành ra. Con vật vui mừng, sủa vang, leo lên xe. Trong nháy mắt, nguồn vui cuống cuồng của nó biến thành sự thịnh nộ đằng đằng sát khí, nó muốn xẻ tà áo bà lão.

– Cho chạy, cho chạy – Một giọng cứng cỏi ra lệnh.

Ngựa ăn roi, chiếc xe phóng đi nhanh. Hai chúng tôi còn lại trên lộ.

– Thấy chưa Watson, kế sách của ta tốt đẹp – Holmes nói lớn và cột con chó lại – Nó lầm tưởng là chủ nó, nhưng nó phát hiện người nào khác.

Chó chưa khi nào lầm.

– Tiếng ra lệnh cho xe chạy là tiếng đàn ông – Tôi nói lớn. Ta có thêm một lá bài mạnh trong tay. Nhưng còn phải đổ mồ hôi nữa.

– Đúng thế.

(Lược phần cuối: Holmes và Watson được Ma-sơn bí mật đưa xuống hầm mộ. Holmes phát hiện trong 1 hòm cổ có xác một người mới mất. Vừa lúc đó, Robert đi xuống, biết mọi chuyện đã bại lộ, hắn đành kể hết cho Holmes nghe về cái chết của người chị, hắn không giết bà mà chỉ là giấu nhẹm cái chết của bà vì sợ bọn chủ nợ đến đòi và tịch thu con Hoàng tử. Lão có nhân chứng là hai vợ chồng người nữ hầu của bà chị. Hôm bàn giao vụ việc cho cảnh sát, cuối cùng, Robert thắng giải đua, trả hết nợ nần, lo tang lễ chu đáo cho người chị).

(Theo A-thơ Cô-nan Đoi-lơ, Thám tử Sherlock Holmes, Toàn tập, Tập 2, NXB Hồng Đức, 2019, tr 564-581)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 (0.5 điểm). Hãy xác định thời gian và địa điểm xảy ra vụ án.

Câu 2 (0.5 điểm). Đặc điểm hệ thống nhân vật của thể loại truyện trinh thám được thể hiện như thế nào trong văn bản Bí mật lâu đài cổ shoscombe?

Câu 3 (1.0 điểm). Trong vụ án này, mỗi nhân vật (Holmes, Watson, Mason, Barnes…) đóng vai trò gì trong việc tìm ra sự thật?

Câu 4 (1.0 điểm). Trong đoạn trích, Sherlock Holmes đã thể hiện tài phá án của mình qua những chi tiết nào?

Câu 5 (1.0 điểm). Câu chuyện Bí mật lâu đài cổ Shoscombe gửi gắm những thông điệp gì về giá trị đạo đức, về mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội?

* GỢI Ý TRẢ LỜI:

Câu 1 (0,5 điểm).

– Địa điểm xảy ra vụ án là lâu đài cổ Shoscombe và khu vực xung quanh như chuồng ngựa, hầm mộ gần lâu đài.

Câu 2 (0,5 điểm).

– Đặc điểm hệ thống nhân vật của thể loại truyện trinh thám trong văn bản được thể hiện qua các kiểu nhân vật quen thuộc:

+ Sherlock là nhân vật thám tử tài giỏi, người có khả năng suy luận, phân tích và phá án.

+ Watson là nhân vật trợ thủ, người đồng hành, hỗ trợ Holmes và cũng là người chứng kiến, kể lại sự việc.

+ Mason là nhân vật cung cấp thông tin, người phát hiện những dấu hiệu bất thường và nhờ Holmes giúp đỡ.

Robert, Barnes, người hầu… là những người liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bí mật của vụ việc.

Câu 3 (1,0 điểm).

– Trong vụ án, mỗi nhân vật đóng một vai trò riêng giúp làm sáng tỏ sự thật:

+ Holmes: là trung tâm của quá trình phá án, người quan sát, suy luận và đưa ra giả thuyết để tìm ra sự thật.

+ Watson: là bạn đồng hành, hỗ trợ Holmes trong việc theo dõi, quan sát và chứng kiến quá trình điều tra.

+ Mason: là người phát hiện những dấu hiệu bất thường ở lâu đài và tìm đến Holmes nhờ giúp đỡ, cung cấp các thông tin quan trọng ban đầu.

+ Barnes: chủ quán “Con Rồng Xanh”, người có liên quan đến việc giấu thi thể trong hầm mộ, gián tiếp cung cấp manh mối cho Holmes.

Câu 4 (1,0 điểm).

– Trong đoạn trích, Sherlock Holmes thể hiện tài phá án của mình qua nhiều chi tiết:

+ Suy luận logic từ những dấu hiệu bất thường như việc người chị đột nhiên không thăm chuồng ngựa, con chó bị đem đi, Robert có nhiều hành động đáng nghi.

+ Đưa ra giả thiết về việc có chuyện nghiêm trọng xảy ra trong gia đình Robert.

+ Lập kế hoạch kiểm chứng bằng cách theo dõi chiếc xe ngựa và dùng con chó để nhận diện chủ thật.

+ Quan sát tinh tế khi phát hiện giọng nói ra lệnh là của đàn ông.

+ Kiên trì điều tra cho đến khi phát hiện thi thể trong hầm mộ và buộc Robert phải nói ra sự thật.

Câu 5 (1,0 điểm).

Câu chuyện gửi gắm nhiều thông điệp ý nghĩa:

– Con người cần sống trung thực, không nên che giấu sự thật vì lợi ích cá nhân.

– Trong cuộc sống, tình thân và trách nhiệm với người thân là điều quan trọng.

– Mọi hành động sai trái hay che giấu cuối cùng cũng sẽ bị phát hiện.

– Đồng thời, câu chuyện cũng cho thấy tình bạn, sự hợp tác và lòng tin có thể giúp con người vượt qua khó khăn và tìm ra sự thật.

ĐỀ BÀI 2: VỤ MẤT TÍCH KÌ LẠ (Sherlock Holmes toàn tập)

Đọc văn bản sau:

VỤ MẤT TÍCH KÌ LẠ (Sir Arthur Conan Doyle)

(Lược một đoạn: Mary Sutherland, một cô gái trẻ, đến gặp thám tử Sherlock Holmes để nhờ ông giúp tìm người yêu của mình, Hosmer Angel. Cô kể rằng cô đã gặp Hosmer tại một buổi khiêu vũ và họ đã nhanh chóng yêu nhau. Tuy nhiên, cha dượng của cô, ông Windibank, không ủng hộ mối quan hệ này. Hosmer đã đề nghị kết hôn với Mary trước khi cha dượng cô trở về. Ông ta rất gấp rút và yêu cầu Mary hứa rằng cô sẽ luôn luôn trung thành với ông ta, bất kể có chuyện gì xảy ra).

– Vậy là hôn lễ đã được dự tính cử hành vào ngày thứ sáu vừa qua?

– Vâng, hôn lễ đã được dự tính cử hành ở nhà thờ St. Saviours, gần Kings Cross và sau đó chúng tôi sẽ dự bữa ăn trưa gia đình tại khách sạn St. Pancras. Hosmer đến nhà đón chúng tôi. Anh đỡ mẹ tôi và tôi lên chiếc xe ngựa có mui, còn anh thì nhảy lên một chiếc khác đang đậu gần đấy. Khi chiếc xe ngựa của anh ấy hiện ra, chúng tôi trông đợi anh Hosmer xuống xe, nhưng trông mãi chẳng thấy.

Người đánh xe quay đầu nhìn vào bên trong xe: anh Hosmer đã biến mất.

– Tôi có cảm giác rằng cô đã bị lừa gạt một cách hết sức bỉ ổi – Holmes nói.

– Ồ không, thưa ông. Anh ấy quá tốt và quá ngay thật. Này nhé! Suốt cả buổi sáng hôm đó, anh ấy không ngừng lặp đi lặp lại với tôi rằng dẫu cho có chuyện gì xảy ra, tôi phải luôn luôn trung thành với anh ấy, rằng dẫu có một biến cố bất ngờ nào chia cách hai chúng tôi, tôi phải luôn luôn nhớ rằng tôi là của anh ấy, và sớm hay muộn gì anh ấy cũng sẽ tìm lại tôi.

– Theo ý cô thì Hosmer đã gặp tai nạn? Cô có cho cha dượng biết việc này không?

– Có. Ông ấy cũng cho rằng có một điều gì đó đã xảy ra. Và ông ấy bảo đảm rằng chỉ trong thời gian ngắn, tôi sẽ được biết tin tức về Hosmer. Thưa ông, tại sao chuyện này lại có thể xảy ra?

(Lược một đoạn: Mary Sutherland cung cấp nhận dạng, 4 lá thư của Hosmer và địa chỉ cha dượng cho thám tử. Holmes xem xét các bức thư của Hosmer và phát hiện ra rằng chữ ký của ông ta cũng được đánh máy. Điều này có nghĩa là Hosmer có thể chối bỏ chữ ký của mình trong trường hợp bị đưa ra tòa về tội đơn phương hủy bỏ hôn ước. Holmes viết hai lá thư, 1 gửi cho một công ty ởtrung tâm thương mại London, yêu cầu họ cho thông tin về người đàn ông tên là Hosmer Angel, 1 gửi cho cha dượng của Mary, yêu cầu ông ta đến gặp Holmes vào lúc 6 giờ chiều ngày mai).

Khách là một người đàn ông vạm vỡ, cao trung bình, trạc 30 tuổi. Gương mặt vàng nhạt, trụi lủi, không có râu mép, râu cằm hay râu má gì cả. Ông ta có một vẻ dịu dàng giả tạo. Đôi mắt xám, rất linh hoạt và sắc sảo ném một cái nhìn dò hỏi về phía chúng tôi. Đoạn ông ta đặt nón lên chiếc tủ buýp-phê, hơi nghiêng mình một chút và ngồi xuống chiếc ghế gần nhất.

– Thưa ông Windibank. Có phải lá thư đánh máy này là của ông không?

– Thưa ông, làm sao ông có thể tìm ra được anh chàng Hosmer.

– Trái lại. Tôi sẽ tìm ra được ông Hosmer.

– Điều đáng ngạc nhiên, là những máy đánh chữ cũng có cá tính riêng biệt của chúng! Có những chữ có vẻ mòn hơn những chữ khác, có những chữ chỉ mòn có một bên … Này ông, trong lá thư đánh máy của ông gửi cho tôi, tôi nhận thấy trên tất cả những chữ “e” đều có một vết nhòe nhỏ, và tất cả những chữ “t” đều có dấu gạch ngang hơi mờ. Tôi còn đếm được 14 đặc điểm khác, nhưng hai đặc điểm vừa kể, là nổi bật nhất.

– Ở văn phòng, chúng tôi sử dụng cái máy chữ đó để đánh tất cả những thư tín của chúng tôi, chắc chắn là nó không còn được tốt lắm. Trong khi trả lời, đôi mắt sắc sảo của ông ta nhìn Holmes đăm đăm.

Ông Windibank giật nẩy mình và nói:

– “Tôi rất mừng được nghe ông báo tin này”.

Và bây giờ, tôi sẽ trình bày cho ông xem một trường hợp thật là thú vị: trong lá thư đánh máy của ông gửi cho tôi và bốn lá thư gửi cô Mary có điểm chung. Bên trên những chữ “e” đều có những vết nhòe nhỏ, và tất cả những chữ “t” đều có dấu gạch ngang không được rõ. Ông lấy chiếc kính lúp của tôi để xem, tôi sẽ chỉ cho ông thấy 14 đặc điểm khác mà tôi đã nói với ông lúc nãy. Ông Windibank liền đứng phắt lên và chụp lấy chiếc nón của ông ta. Đôi mắt sắc sảo của Windibank nhìn Holmes đăm đăm, rồi nói:

– Ông Holmes, tôi không có thì giờ rảnh để nói những chuyện tầm phào! Nếu ông có thể bắt gặp được ông Hosmer thì hãy cứ bắt đi, rồi báo tin cho tôi biết.

– Chắc chắn là như thế? – Holmes đáp, vừa lẹ làng đứng lên khoá trái cửa lại.

– Ông nên biết rằng tôi đã bắt được Hosmer rồi.

– Sao? Ở đâu? – Ông Windibank kêu lên bằng một giọng thảng thốt, như một con chuột bị sa bẫy.

– Ô không sao … Không sao cả! – Holmes đáp bằng một giọng ngọt lịm

– Ông Windibank, bấy giờ ông không còn cách nào để thoát được nữa. Tất cả đều đã quá rõ.

Ông Windibank ngồi phịch xuống. Gương mặt tái mét, trán ướt đẫm mồ hôi.

– Pháp … pháp luật không thể làm gì được tôi! – Ông ta nói lắp bắp.

– Có thể là pháp luật không làm gì được ông. Nhưng hành động của ông thật là vô cùng đê tiện, tàn nhẫn và ích kỷ …

Tôi sẽ kể lại sự việc từ đầu đến cuối và nếu tôi có sai chỗ nào thì ông cứ việc sửa: Người cha dượng của cô gái đã cải trang thành một người đàn ông tên là Hosmer để lừa cô gái. Hắn mang một cặp kính màu, đeo một bộ râu giả, và biến giọng nói bình thường của mình thành một giọng nói thì thầm êm dịu, ông ta đến dự buổi khiêu vũ, làm quen với cô gái và tự giới thiệu mình là Hosmer, thế là người cha dượng đã đóng vai trò một kẻ si tình cô con gái riêng của vợ mình, để gạt ra ngoài bất cứ anh chàng nào muốn lăm le tán tỉnh cô. Ông ta đã làm điều này vì muốn ngăn cản cô gái lập gia đình, vì như vậy ông ta sẽ không được hưởng số tiền 100 bảng mỗi năm từ cô gái nữa.

(Lược một đoạn: Sau khi làm rõ vụ việc, Sherlock Holmes giải thích rằng ông Windibank đã giả làm Hosmer Angel để lừa Mary. Holmes suy luận từ nhiều chi tiết: hai người đàn ông không bao giờ xuất hiện cùng lúc; Hosmer luôn đeo kính màu, râu giả, nói giọng khác; các bức thư được đánh máy để che giấu chữ viết. Từ những manh mối đó, Holmes loại bỏ các yếu tố ngụy trang và xác nhận người giả danh chính là Windibank).

(Arthur Conan Doyle, Sherlock Holmes toàn tập. NXB Văn học, 2015)

* Sir Arthur Conan Doyle (1859 – 1930) là một nhà văn người Scotland nổi tiếng với tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes, tác phẩm được cho là một sáng kiến lớn trong lĩnh vực tiểu thuyết trinh thám. Các tác phẩm của ông bao gồm nhiều truyện khoa học giả tưởng, tiểu thuyết lịch sử, kịch …

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản. Ngôi kể này có tác dụng gì trong việc kể lại câu chuyện phá án?

Câu 2. Chỉ ra lời của người kể chuyện và lời của nhân vật trong đoạn trích. Việc kết hợp hai hình thức lời kể này có tác dụng gì trong việc thể hiện diễn biến câu chuyện?

Câu 3. Nêu nội dung bao quát của đoạn trích.

Câu 4. Chi tiết những chữ “e” bị nhòe và chữ “t” có dấu gạch ngang mờ trong các bức thư có ý nghĩa gì trong quá trình phá án của Holmes?

Câu 5. Hãy chỉ ra hai chi tiết quan trọng trong văn bản đã giúp Holmes phát hiện ra sự thật về Hosmer Angel.

Câu 6. Phân tích ý nghĩa của những chi tiết manh mối đó đối với quá trình suy luận và khám phá vụ án của thám tử.

Câu 7. Qua lời giải thích của Holmes, hãy nêu sự thật về nhân vật Windibank.

Câu 8. Nhận xét đặc điểm của nhân vật Sherlock Holmes được thể hiện trong đoạn trích (về trí tuệ, khả năng quan sát và suy luận).

Câu 9. Theo em, nhân vật Windibank trong truyện có những đặc điểm tính cách gì? Hành động của nhân vật này gợi cho người đọc suy nghĩ gì về đạo đức con người?

Câu 10. Từ cách suy luận của Holmes trong truyện trinh thám, hãy nêu một số giải pháp mà em có thể thực hiện để rèn luyện kĩ năng suy luận và quan sát trong học tập và cuộc sống (trình bày khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 3: MỘT VỤ CHẾT ĐUỐI (Chuỗi án mạng A.B.C)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

MỘT VỤ CHẾT ĐUỐI (trích)

Bà Marple đến gặp cựu cảnh sát Henry và nói: “ … con bé này … Rose Emmott. Không phải nó nhảy sông tự vẫn … người ta giết nó … Tôi còn biết ai là thủ phạm … và viết một mảnh giấy đưa cho ông. Ông cảnh sát trưởng nói với ngài Henry và viên thanh tra mật thám Drewitt đi điều tra, lúc đầu, Sandford – một kiến trúc sư trẻ về đây được một tháng là nghi can số một, vì trong túi áo nạn nhân có mảnh giấy hẹn gặp của hắn, sau đó là Joe Ellis làm nghề thợ mộc rất mê Rose Emmott. Cả ba đi điều tra: đến nhà Emmott, Sandford đều không có manh mối gì.

Joe Ellis ở trọ nhà của bà Bartlett – một góa phụ, lo việc giặt ủi quần áo. Bà cho biết từ tám giờ đến tám rưỡi, Joe Ellis lo sửa tủ đựng chén bát dưới bếp suốt cả buổi tối, còn bà thì lo giúp một tay. Ngài Henry nhìn nét mặt bà tươi cười, chợt một thoáng hồ nghi hiện ra trong đầu. Melchett mở đầu câu chuyện:

– Chúng tôi đang mở cuộc điều tra về cái chết của Rose Emmot. Anh biết cô ta chứ, Ellis?

– Có, tôi chờ ngày được cưới nàng. Vậy mà, hắn xô nàng xuống nước, chính hắn. Lấy gã rồi nàng cũng sẽ khổ. Tôi biết đến lúc đó nàng sẽ lại tìm tôi. Tôi sẽ lo hết cho nàng.

– Tối qua lúc tám rưỡi anh ở đâu, Ellis? Phải chăng do ngài Henry quá tưởng tượng hay là câu trả lời đã được anh ta sắp sẵn trong trí nên anh ta trả lời nhanh chóng.

– Tôi ở nhà đây, lo sửa tủ kệ ở dưới nhà bếp cho bà Bartlett, ngài hỏi bà ấy thì biết. Anh chàng mau miệng ghê, ngài Henry nghĩ trong đầu. Bình thường gã ăn nói chậm chạp, vậy tức là cho thấy gã đã chuẩn bị trước lời đối đáp.

Ngài Henry trở xuống nhà bếp. Bà Bartlett đang đứng bên bếp lò nấu ăn. Bà vui vẻ ngước nhìn ngài. Cái tủ kệ kê sát vô vách, chưa làm xong, đồ nghề còn bày ra đó. Ellis lo làm cả buổi tối hôm trước đấy sao? – Ngài Henry hỏi.

– Vâng, khéo đấy chứ thưa ngài, cậu ta là một tay thợ lành nghề, Joe khá lắm. Bà nói nghe rất tự nhiên … không vấp váp. Còn Ellis … Ngài Henry nghĩ. Vừa quay bước đi ra ngoài, chân ngài vấp phải chiếc xe đẩy trẻ em. “Không khéo thằng bé nó thức dậy” – Ngài nói. Bà Bartlett cười giòn: “Tôi đâu có con, chiếc xe đó tôi cất đồ giặt ủi.

Ngài bỏ đi khỏi, trong người thấy chưa yên. Mất công toi chẳng thu được gì. Cả buổi tối hôm trước, Joe Ellis lo cắm cúi làm việc nhà. Bà Bartlett có ở đó giúp gã một tay. Vậy thì có ai tung ra chuyện này trước? Lấy gì làm bằng chứng đối chiếu … ngoại trừ bằng chứng hồ nghi cho câu trả lời sắp đặt trước của Joe Ellis … khi nghe hỏi tới gã mau miệng nói ra ngay.

(Lược một đoạn: Viên thanh tra đòi bắt Sandford nhưng Henry nói anh chàng Sandford không dám có hành vi táo bạo đến vậy và đi gặp thằng nhóc con đã chứng kiến sự việc ngay từ đầu.)

– Con sông chảy qua làng cháu, vậy cháu nhìn thấy ai chạy ra cầu không?

– Có, cháu thấy có người trong lùm cây. Chính là ảnh Sandford.

– Vậy là mười phút sau cháu mới nghe tiếng kêu cứu phải không? Thằng nhóc gật.

– Có người đi men theo đường làng. Vừa đi chậm, vừa huýt gió. Chắc là Joe Ellis.

– Con nghe tiếng huýt gió mới biết – thằng nhóc nói – Joe thích huýt gió bài hát đó … “Ta muốn thấy nàng hạnh phúc”, anh ấy nhớ có mỗi một điệu đó thôi.

Melchett nói:

– Cháu nghe tiếng kêu và một tiếng rớt tõm xuống nước, một lát sau xác người nổi lên, cháu bỏ chạy đi kêu cứu. Hình như có hai ông đẩy xe cút kít, hai ông ở đàng xa, không biết có phải đi tới đây không, thấy nhà ông Giles gần hơn, cháu chạy tới đó.

– Khá lắm, nhóc con – Melchett nói – Cháu nhanh trí đấy.

Ngài Henry nghĩ ngợi, ông rút trong túi ra một mảnh giấy … và đi gặp bà Marple. Tới nơi, ngài Henry nói ngay:

– Ông không tìm ra một điểm nào … biết nói sao đây … để hậu thuẫn cho ý kiến tôi đã đóng góp hay sao? – Bà lúng túng … lo ngại. – Có lẽ tôi đã nhầm …

Ngài Henry nói: phải đối phó với một tên tội phạm viện cớ vắng mặt tại hiện trường. Tối hôm đó Joe Ellis lo sửa kệ tủ dưới nhà bếp, có bà Bartlett lo phụ giúp một tay. Bà Marple nghiêng người ra trước, hít một hơi sâu:

– Không thể nói vậy được. – bà nói – Bữa đó nhằm tối thứ Sáu.

– Tối thứ Sáu à ?…

– Thường tối thứ sáu bà Bartlett đi giao đồ giặt ủi cho mấy nhà trong xóm.

Chợt ngài Henry nhớ lại lời thằng nhóc Jimmy Brown kể có nghe tiếng một anh chàng huýt gió… đúng quá đi rồi. Ngài đứng lên, sốt sắng bắt tay bà Marple: “Tôi muốn nói là đã tìm thấy ẩn số.” Sau năm phút ngài đã có mặt tại nhà trọ bà Bartlett và nói với Ellis rằng:

– Anh đã nói dối, Ellis, về chuyện tối qua.

Ngài mạnh dạn nói:

– Không có chuyện anh lo sửa kệ tủ dưới nhà bếp lúc từ tám giờ tới tám rưỡi. Chỉ vài phút trước khi Rose Emmot bị giết anh đi ra bờ sông, về phía đầu cầu.

Gã há hốc mồm: “Không phải nàng bị giết chết … không phải. Tôi không biết chuyện đó. Nàng nhảy xuống sông, thật mà. Tôi không làm gì hại nàng, không … ”

– Vậy sao anh phải bịa chuyện lúc đó đang ở đâu? Ngài Henry gắt gỏng.

– Mắt gã chớp chớp có vẻ áy náy: “Tôi lo sợ. Bà B. nhìn thấy tôi đang đi ra ngoài đó và khi hay được chuyện gì xảy ra … Vâng, bà thấy nguy cho tôi. Tôi nghĩ ra chuyện ở nhà sửa kệ tủ, bà đồng ý nói đỡ tôi. Bà không phải như người ta, bà tử tế với tôi”

Không nói lời nào ngài Henry trở xuống nhà bếp. Thấy bà Bartlett đang giặt đồ, ngài nói: Tôi đã biết hết. Bà nên thú thật đi … tức là, nếu bà không muốn nhìn thấy Joe Ellis bị treo cổ vì không có tội tình gì … Để tôi kể lại cho bà nghe. Tối hôm trước bà đi giao đồ giặt ủi cho mấy nhà trong xóm.

Bà gặp Rose Emmott. Bà biết chuyện nàng muốn bỏ rơi Joe, đi theo người khác. Lúc này nàng mới thấy khổ … Joe được muốn trở lại với nàng … muốn lấy nàng làm vợ và nếu nàng thấy cần phải có gã. Bà căm ghét cô nàng kia, bà không chịu nổi cảnh con bé cuỗm mất anh chàng kia đi. Bà níu lấy vai con bé xô xuống dòng nước. Mấy phút sau bà nhìn thấy Joe Ellis. Từ bên kia sông Jimmy nhìn thấy có hai người …. lúc đó trời tối sương mù nó nhìn chiếc xe đẩy trẻ con tưởng đâu là xe cút kít, bà nghĩ là Joe có thể bị nghi oan, nên bà bịa ra chuyện lúc đó gã không đi ra ngoài bờ sông nhưng thật ra là nhằm bảo vệ cho bà.

Đúng như lời ngài kể. Bây giờ bà mới chịu khai, giọng bà chùng xuống. Cái giọng này mới đáng sợ, ngài Henry nghĩ bụng. Tôi thấy bị choáng … nó không thể nào chiếm đoạt được Joe. Tôi chỉ còn có Joe. Tôi lo cho gã hết mình … từ A tới Z. Như là một đứa trẻ, thú thật với ngài, anh ta dễ thương dễ nghe. Gã thuộc về tôi, để tôi có người nương tựa. Tôi đã khai ra, thưa ngài … Làm sao ngài biết hết … Tôi không ngờ … tôi đã chắc chắn.

Không phải mỗi mình tôi biết. Ngài nói … sực nhớ mảnh giấy “Bà Bartlett, người cho Joe Ellis ở trọ tại ngôi nhà số 2, Mill Cottages”. Và bà Marple lại đoán trúng.

(Agatha Christie, Chuỗi án mạng A.B.C. NXB Trẻ, 2019)

* Agatha Mary Clarissa (1890 – 1976) là một nhà văn trinh thám người Anh. Với hai nhân vật thám tử nổi tiếng, Hercule Poirot và bà Marple (Miss Marple), Christie được coi là “Nữ hoàng trinh thám” và là một trong những nhà văn quan trọng và sáng tạo nhất của thể loại này.

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Xác định thời gian và địa điểm xảy ra vụ án trong đoạn trích trên.

Câu 3. Trong quá trình điều tra, Joe Ellis ban đầu bị nghi ngờ vì những chi tiết nào?

Câu 4. Chi tiết Joe Ellis trả lời rất nhanh khi được hỏi về việc mình ở đâu vào tối hôm xảy ra vụ việc gợi ra điều gì đối với ngài Henry?

Câu 5. Những chi tiết nào trong lời kể của thằng bé Jimmy Brown đã giúp làm sáng tỏ diễn biến vụ án?

Câu 6. Vì sao bà Marple khẳng định lời khai của bà Bartlett và Joe Ellis là không đúng sự thật?

Câu 7. Hãy nêu đặc điểm nổi bật của nhân vật bà Marple qua cách suy luận và phán đoán trong vụ án.

Câu 8. Qua lời thú tội của bà Bartlett, hãy cho biết động cơ dẫn đến hành động phạm tội của nhân vật này.

Câu 9. Từ cách phá án của các nhân vật trong truyện trinh thám, hãy nêu một số cách rèn luyện khả năng quan sát và suy luận logic trong học tập và cuộc sống (trình bày khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 4: SÁU KẺ TÌNH NGHI (Chiếc tất nhuộm bùn – Thám tử Kỳ Phát, Phạm Cao Củng)

Đọc văn bản dưới đây:

SÁU KẺ TÌNH NGHI (Phạm Cao Củng)

(Tóm lược đoạn đầu: Sau khi ông Phạm Viên – giám đốc hãng xuất nhập khẩu – bị ám sát trong đêm tiệc tại nhà, sáu vị khách có mặt hôm đó đều bị nghi ngờ. Thanh tra Trúc Tâm điểm lại mối quan hệ của từng người với nạn nhân: Huyện Lý là bạn học cũ, Dương Ba là đối tác làm ăn lâu năm, Phan Vỹ là cháu của Phạm Viên, Sen là trưởng văn phòng kiêm thư ký riêng, còn ông bà Ba là đại diện hãng tại Hương Cảng.

Đêm xảy ra vụ án, sau bữa ăn Phạm Viên lên phòng nghỉ. Khoảng 11 giờ 15, khi Phan Vỹ xuống lấy rượu thì nghe tiếng súng nổ từ phòng riêng trên lầu ba. Mọi người chạy lên và phát hiện Phạm Viên đã chết vì trúng đạn, tủ bị lục tung và khoảng 7–8 nghìn đồng trong ngăn tủ đã bị lấy mất).

Nhìn khắp mọi người một lượt Trúc Tâm lại thong thả tiếp:

– Theo lệ thường trong các cuộc điều tra trước hết chúng tôi cần biết: kẻ nào sẽ được lợi sau khi Phạm Viên chết đi. Nhưng đối với tất cả 6 vị ở đây tôi đều thấy ai ai cũng có thể có duyên cớ hợp lý để… hạ sát Phạm Viên hoặc là cầu lợi hoặc là trả một mối thù riêng mà họ đã giữ kín từ lâu nay…

Thấy cử tọa có vài người muốn nói Trúc Tâm giơ tay cản lại mà tiếp luôn:

– Những điều tôi nói đây đều có chứng cớ xác thực vậy xin bất tất ai phải chối cãi làm gì… Riêng có điều: khi tiếng súng nổ kết liễu đời Phạm Viên thì tất cả 6 quý vị ở đây đều có mặt trong phòng khách cả vậy lý đương nhiên không một ai có thể nhúng tay vào vụ ám sát này…

Nghe Trúc Tâm nói tới đây mọi người như trút được gánh nặng thở phào khoan khoái… Ngưng lại ít phút Trúc Tâm lại nhìn mọi người mà hỏi:

– Trong quý vị đây mấy bữa trước có ai đi xem chiếu bóng hay tuồng kịch gì không?

Ông Ba Cự đáp:

– Tôi và nhà tôi mấy bữa trước có đi coi gánh Hoàng Thanh diễn vở Huyền Châu Nữ…

Vừa nói ông Ba Cự vừa sờ vào túi như có ý định tìm hai cuống vé vào cửa nhưng ông bỗng lắc đầu:

– Quái tôi nhớ lúc tôi móc túi lấy gói thuốc hút còn thấy hai cuống vé trong túi không hiểu tôi lại vứt đâu lúc nào rồi…

Trúc Tâm mỉm cười nói:

– Cái đó không sao… Bây giờ tôi chỉ xin quý vị hãy chú ý lắng nghe tôi nói…

Tuy tuyên bố như vậy nhưng Trúc Tâm chỉ vén tay áo coi giờ rồi ngồi lặng thinh như chờ đợi cái gì chứ chưa nói năng chi hết. Khoảng năm phút sau chàng thanh tra thám tử mới lớn tiếng hỏi:

– Anh Năm có đấy không?

Trúc Tâm ra lệnh: “Khởi sự đi anh Năm!”

Thế là chưa đầy hai phút sau một tiếng nổ rền từ lầu ba vọng xuống… Trúc Tâm hỏi mọi người:

– Quý vị có nghe thấy gì không?

Mọi người cùng đáp: Có tiếng súng nổ đúng như đêm xảy ra vụ án mạng.

Trúc Tâm mỉm cười rồi đúng lúc Phan Vỹ vùng đứng lên thì Trúc Tâm cũng đã áp tới rút khóa tay còng ngay hắn lại. Và Trúc Tâm cắt nghĩa:

– Phan Vỹ giết ông Phạm Viên không ngoài ý muốn sang đoạt gia tài vì ông Phạm Viên không có con cái chi hết. Tên cháu bất lương này có lẽ đã tính toán từ lâu… Mà không chừng hắn đã tập diễn thử và thấy mọi lớp lang sắp đặt đều hoàn toàn đúng nhịp… Chai Bisquit hắn cũng đã để sẵn từ trước chai gần cạn thì là một cái cớ cho hắn đi ra ngoài còn chai đầy hắn để sẵn giấu trong chiếc giỏ đựng đầy giấy bên phòng làm việc bên cạnh đấy.

Nghe tới đoạn này ông Ba Cự nói:

– À tôi nhớ ra rồi hai cuống vé coi hát hồi chiều hôm ấy tôi có vứt vào giỏ đựng giấy khi ngồi tính toán công chuyện với ông Phạm Viên…

Trúc Tâm mỉm cười nói tiếp:

– Chính nhờ có cuống vé coi hát dính ở dưới trôn chai rượu mà tôi biết được rõ rệt vụ này… Khi nói đi lấy rượu thì Phan Vỹ đã lên nhanh trên lầu bắn chết Phạm Viên rồi hắn đặt một chiếc pháo vào trong một chiếc lư đồng lớn bày trên tủ chè châm ngòi đốt. Nhanh nhẹn Phan Vỹ trở xuống dưới nhà lấy chai rượu đầy mở cửa vào phòng khách… Vì lần trước cửa đóng nên không ai nghe thấy tiếng súng nổ còn lần sau tiếng pháo nổ mọi người cùng nghe vì hung phạm đã khôn ngoan mở rộng cửa lúc bước vào trong… Tất cả kế hoạch của Phan Vỹ chỉ nhằm một mục đích: làm sao cho mọi người tưởng ông Phạm Viên bị bắn khi hắn lại có mặt ở đây!

(Phạm Cao Củng, Chiếc tất nhuộm bùn – Thám tử Kỳ Phát)

* Phạm Cao Củng (1913 – 2012) là nhà văn chuyên viết truyện trinh thám nổi tiếng trước năm 1945. Ông được xem là “Vua truyện trinh thám Việt Nam” và cũng được coi là người viết truyện trinh thám đầu tiên của Việt Nam.

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định thời gian và địa điểm xảy ra vụ án trong đoạn trích.

Câu 2. Đêm xảy ra vụ án, những ai có mặt tại nhà ông Phạm Viên?

Câu 3. Khi nghe tiếng súng nổ, mọi người đã phát hiện ra điều gì khi chạy lên phòng của Phạm Viên?

Câu 4. Theo lời thanh tra Trúc Tâm, điểm đáng chú ý về sự có mặt của sáu vị khách khi tiếng súng nổ là gì?

Câu 5. Chi tiết hai cuống vé xem hát dính dưới đáy chai rượu đã giúp thanh tra Trúc Tâm phát hiện ra điều gì về hung thủ?

Câu 6. Hãy chỉ ra một số chi tiết thể hiện sự tính toán trước của Phan Vỹ trong kế hoạch gây án.

Câu 7. Qua cách điều tra và suy luận của Trúc Tâm, hãy nêu đặc điểm nổi bật của nhân vật thám tử trong truyện trinh thám.

Câu 8. Theo em, chi tiết Trúc Tâm cho nổ thử để mọi người nghe lại tiếng súng có ý nghĩa gì trong việc phá án?

Câu 9. Nêu động cơ phạm tội của Phan Vỹ theo lời giải thích của Trúc Tâm.

Câu 10. Từ cách phá án trong truyện, em hãy nêu một số cách rèn luyện khả năng quan sát và suy luận logic trong học tập và đời sống (trình bày khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 5: NĂM HẠT CAM KHÔ (trích Thám tử Sherlock Holmes)

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

NĂM HẠT CAM KHÔ (trích)

Hạ tuần tháng chín. Những ngọn gió thu phân thổi vào dữ dội, suốt ngày gió thét mưa gào. Khi buổi chiều dần đến, cơn bão càng lồng lộn; trong ống khói, gió kêu khóc như một đứa trẻ. Sherlock Holmes ngồi trầm tư ở một phía lò sưởi, tra cứu những hồ sơ hình sự. […]

[Lược trích: Chú và bố của Openshaw chết, được cho là do tự tử, tai nạn. Trước khi chết, hai người đều nhận được thư, trong đó có năm hạt cam khô và những ký tự K.K.K. Sau đó, chính Openshaw cũng nhận được thư và những thông tin như trên. Openshaw tìm đến nhờ Holmes giúp đỡ. Holmes nhận ra ngay thủ đoạn gây án của hung thủ. Holmes bảo Openshaw về ngay, làm theo những điều Holmes dặn, để tránh sự truy sát của kẻ thù. Trên đường về, Openshaw đã bị sát hại. Holmes quyết tìm ra bọn sát nhân.]

Holmes lấy từ trong chọn ra một quả cam, xẻ thành từng mảnh, rồi bóp cho những hạt cam rơi xuống bàn. Anh lấy năm hạt và nhét chúng vào một bì thư. Ở phía trên trong nắp phong bì, anh viết: “A.H gửi cho J.C”. Rồi anh dán lại, đề địa chỉ người nhận: “Thuyền trưởng James Calhoun, tàu Lone Star, tiểu bang Georgie”.

– Lá thư sẽ đợi hẳn khi hắn vào hải cảng – Anh cười khúc khích, nói: Lá thư sẽ cho hắn một đêm không ngủ. Hắn sẽ thấy rằng mọi sự vùng vẫy đều vô ích, như điều mà chàng trai Openshaw đã cảm nhận xưa kia.

Thuyền trưởng Calhoun là ai?

– Là thủ lĩnh của bọn đó.

– Anh tìm ra tung tích bọn chúng như thế nào?

Holmes lấy từ trong túi ra một tờ giấy lớn, đầy những cái tên và những con số chỉ ngày tháng.

– Tôi đã mất cả một ngày để xem xét nhiều tập hồ sơ cũ, theo dõi lộ trình sẽ đi của tất cả những tàu thủy đã cập bến Pondicherry vào tháng giêng và tháng hai năm 1883. Có 36 tàu trọng tải khá lớn được báo cáo là có mặt ở đó, trong những tháng này. Trong số đó, có một chiếc tàu tên là Lone Star đã lôi cuốn sự chú ý của tôi, bởi vì nó mang tên của một tiểu bang của Mỹ.

– Tôi nghĩ là tiểu bang Texas.

Cho đến giờ tôi cũng không biết chắc là tiểu bang nào. Nhưng tôi đã biết chắc rằng đó là một chiếc tàu gốc tại Mỹ.

– Sau đó, anh làm gì?

– Tôi lục soát những hồ sơ về Dundee và khi tôi thấy rằng chiếc thuyền buồm Lone Star có mặt tại đây vào tháng giêng năm 1885, thì tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Rồi tôi điều tra về những con tàu hiện đang nằm tại cảng London.

– Gì cơ?

– Tuần trước, con tàu Lone Star đã đến đây. Tôi đi xuống bến tàu và thấy rằng nó đã nhổ neo từ sáng sớm hôm nay, trên đường đến Savannah. Tôi đánh điện tới Gravesend, và được biết rằng nó đã đi qua một thời gian trước đó, vì gió đang thổi về hướng đông, tôi chắc chắn rằng bây giờ nó đã đi quá Goodwins, và cách đảo Wight không xa.

– Rồi anh sẽ làm gì?

– Ồ, tôi sẽ tóm cổ hẳn […], và điện tín hẳn đã báo cho cảnh sát Savannah biết rằng cần phải bắt giữ ba tên này về tội mưu sát.

Tuy thế, kẻ mưu sát chàng trai Openshaw không bao giờ nhận được những hạt cam. Năm ấy, những cơn gió thu phân kéo dài rất lâu và khắc nghiệt. Chúng tôi mòn mỏi chờ tin con tàu Lone Star của Sanvannah, nhưng bặt chim tăm cá. Sau cùng, chúng tôi nghe nói rằng, ở một nơi nào đó ngoài xa khơi Đại Tây Dương, người ta thấy một cái cột buồm phía đuôi tàu bị vỡ tan, đang lắc lư trên sóng. Trên đó, có khắc “L.S”.

(Trích Thám tử Sherlock Holmes, Sir Arthur Conan Doyle, NXB Hồng Đức, 2018, tr. 300 – 317)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Trong đoạn trích, đâu là lời của người kể chuyện và đâu là lời thoại của nhân vật? Hãy nêu một ví dụ.

Câu 3. Đoạn mở đầu miêu tả cơn bão, gió thu phân và tiếng gió trong ống khói có tác dụng gì trong việc tạo không khí cho câu chuyện?

Câu 4. Chi tiết Holmes cho năm hạt cam vào phong bì gửi cho thuyền trưởng James Calhoun có ý nghĩa gì trong việc điều tra và truy tìm thủ phạm?

Câu 5. Holmes đã dựa vào những thông tin nào để lần ra tung tích con tàu Lone Star và thủ lĩnh của bọn tội phạm?

Câu 6. Qua việc tra cứu hồ sơ tàu cập bến Pondicherry và theo dõi hành trình của tàu Lone Star, em nhận xét gì về phương pháp điều tra của Holmes?

Câu 7. Kết cục của vụ án (hoặc số phận của hung thủ) được kể lại như thế nào? Chi tiết này gợi cho em suy nghĩ gì về công lí hoặc hậu quả của tội ác?

Câu 8. Từ cách suy luận và điều tra của Holmes, em hãy nêu một số cách rèn luyện khả năng quan sát và suy luận logic trong học tập và cuộc sống (khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 6: VỤ TRỘM KHO BÁNH (Tuyển tập truyện hình sự, Jack Christone)

Đọc văn bản dưới đây:

VỤ TRỘM KHO BÁNH (trích)

– Hin-tơ, tới trụ sở liền được không? Oa-lây-ết nói qua điện thoại. – Tôi biết đang là tối thứ bảy và ông thích ở với vợ con. Nhưng tôi đang gặp một chuyện nát óc mà chắc giỏi suy luận như ông cũng chưa chắc giải nổi. – Ông thanh tra rên rỉ.

– Được rồi, nếu chuyện không quan trọng thì ông đâu có kêu. Tôi tới liền. Nếu hên thì mình sẽ giải quyết xong kịp giờ cho tôi về với món rô-ti của bà xã trong lò. – Tay bác sĩ đáp.

Oa-lây-ết đón Hin-tơ ngay cổng đồn cảnh sát và dẫn ông ta vào phòng thẩm vấn, nơi Hen-ry Oắt-man đang ngồi bồn chồn bẻ đốt ngón tay.

– Ông có nghe vụ trộm kho bánh tối qua không? – Oa-lây-ết hỏi. – Có đứa đột nhập và chở đi toàn bộ kho trứng để làm nhân bánh. Ông Oắt-man đây là bảo vệ nhà kho, giữ ca trực đêm qua. Tôi vừa lấy lời khai của ông ta xong.

– Như ông thanh tra vừa nói, Oắt-man lên tiếng, nhà kho bị đột nhập ngay ca trực của tôi tối qua. Tôi không hay biết gì vì lúc đó tôi bỏ đi uống cà phê, nhưng khi từ quán cà phê trở về, tôi thấy một trong những tay đã làm vụ này. Đó là Giôn Ô-hen-ry, thẳng đó vừa bị đuổi việc mấy bữa trước. Tôi thấy nó đang chuồn đi với mấy cái thùng. Trăng tròn nên tôi thấy rõ lắm. Nó còn có một đồng bọn nữa, nhưng thằng đó quay lưng về phía ánh trăng nên tôi không nhìn rõ mặt. Tôi nghi thằng Ô-hen-ry muốn trả thù vì bị đuổi việc. Cũng may, Trung thu là chủ nhật vừa rồi, nếu không là có biết bao nhiêu tiệm bánh khiếu nại vì không có bánh bán.

– Chuyện rắc rối là ở chỗ – Oa-lây-ết nói sau khi ông bảo vệ được cho về – cái gã Ô-hen-ry đó lại có bằng chứng ngoại phạm. Chiều nay tôi mới thẩm vấn nó. Nó khai cả buổi tối ở nhà với vợ coi phim Titanic. Con vợ làm chứng cho nó. Thằng cha chủ tiệm cho thuê băng đĩa cũng xác nhận có cho nó thuê đĩa phim đó.

– Ông suy ra được cái gì không?

– Tôi suy ra là tôi thừa sức về nhà để kịp ăn món rô-ti với vợ tôi. – Hin-tơ nói, ông khỏi phải ưu tư về tay Ô-hen-ry nữa. Cứ hỏi lại cha Oắt-man xem cha làm gì lúc bỏ vị trí nhiệm sở đi uống cà phê. Nếu Trung thu đã qua vào tuần trước thì làm sao còn trăng tròn cho tay bảo vệ nhìn rõ mặt Ô-hen-ry?

(Jack Christone, Tuyển tập truyện hình sự, Nhà xuất bản văn học) 

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Chỉ ra một câu là lời của người kể chuyện và một câu là lời thoại của nhân vật trong văn bản.

Câu 3. Xác định thời gian và địa điểm chính của vụ trộm được nhắc đến trong đoạn trích.

Câu 4. Theo lời khai của nhân vật Oắt-man, ông ta đã nhìn thấy ai là người lấy trộm kho trứng? Ông ta dựa vào chi tiết nào để khẳng định điều đó?

Câu 5. Chi tiết “Trăng tròn nên tôi thấy rõ lắm” trong lời khai của Oắt-man có ý nghĩa gì đối với việc xác định thủ phạm?

Câu 6. Dựa vào chi tiết “Trung thu đã qua vào tuần trước thì làm sao còn trăng tròn”, Hin-tơ đã phát hiện ra điều gì trong lời khai của Oắt-man?

Câu 7. Qua cách suy luận của Hin-tơ, em hãy nêu đặc điểm nổi bật của nhân vật thám tử trong truyện trinh thám.

Câu 8. Từ cách phát hiện mâu thuẫn trong lời khai của nhân vật, em hãy nêu một số cách rèn luyện khả năng quan sát và suy luận logic trong học tập và cuộc sống (khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 7: ÁN MẠNG TRÊN SÔNG NILE (Trích Án mạng trên sông Nile”, Agatha Christie)

Đọc văn bản sau đây:

ÁN MẠNG TRÊN SÔNG NILE (Trích)

Linnet Ridgeway là một thiếu nữ trẻ người Mỹ được thừa hưởng một gia sản rất lớn của gia đình, cô chuyển sang Anh sống với hy vọng sẽ biến đổi hẳn một vùng đồng quê xung quanh trang viên của cô trở thành một vùng thịnh vượng theo đúng ý mình. Không chỉ giàu có và xinh đẹp, Ridgeway còn là người xởi lởi và đối xử tốt với mọi người, cô sẵn sàng giúp người hầu gái Marie nhận ra rằng vị hôn phu của cô ta, kỹ sư Fleetwood, thực tế là một người đã có vợ, Linnet cũng dễ dàng nhận lời đề nghị của người bạn gái thân Jacqueline de Bellefort về việc nhận Simon Doyle, người vừa đính ước với Jacqueline, vào làm việc.

Điều Jacqueline không ngờ tới là sau khi tới làm việc tại trang viên của Linnet, Simon Doyle và Linnet lại phải lòng nhau và đi tới đám cưới trong sự bất ngờ của Jacqueline. Để trả đũa, cô gái người Pháp theo đuổi đôi vợ chồng mới cưới khắp nơi trong chuyến đi nghỉ tuần trăng mật của hai người. Cuối cùng cả bốn người (kể cả cô hầu gái Louise Bourget của Linnet) tới Ai Cập và bắt đầu một chuyến du lịch kỳ lạ trên sông Nile cùng 18 hành khách khác, nhiều người trong số đó không hiểu vô ý hay tình cờ lại có ít nhiều quan hệ với vợ chồng nhà Doyle hoặc Jacqueline. Người đầu tiên là Poirot, thám tử người Bỉ từng chứng kiến một cuộc nói chuyện thân mật của Simon Doyle và Jacqueline de Bellefort trong thời gian họ còn đính ước. Tiếp đó là bà Allerton và con trai Tim Allerton, những người họ hàng của cô Joanna Southwood, bạn gái của Linnet. Tình cờ trên tàu Linnet còn gặp “chú” Pennington, bạn bố cô và cũng là luật sư chịu trách nhiệm về khối tài sản khổng lồ của nhà Ridgeway tại Mỹ trong thời gian chờ Linnet đủ 21 tuổi, Pennington tỏ ra bất ngờ khi biết tin Linnet đã kết hôn với Simon Doyle. Trên tàu còn có những hành khách kỳ lạ khác như nhóm 3 khách du lịch người Mỹ gồm quý bà Schuyler cùng hai tùy tùng là cô Bowers và cô Cornelia Robson, chàng thanh niên cấp tiến người Anh James Ferguson, bác sĩ người Áo Carl Bessner, nhà khảo cổ người Ý Richetti hay vị khách ít nói người Anh James Fanthorp. Về phần Hercule Poirot, ông cũng nhận ra một người quen là đại tá Race vốn lên tàu để tìm bắt một tên giết người không rõ danh tính, Poirot cũng kịp làm quen với mẹ con nữ nhà văn Otterbourne.

Trước khi chuyến tàu du lịch sông Nile khởi hành, Jacqueline đã bộc lộ ý định trả thù của cô với Poirot, tuy hết lòng ngăn cản nhưng viên thám tử người Bỉ cũng không thể ngăn cô gái người Pháp lên tàu với khẩu súng lục trong ví. Khi tàu dừng lại thăm một đền thờ Ai Cập cổ, một viên đá lớn bất ngờ rơi xuống đầu hai vợ chồng Doyle, rất may cả hai đã tránh kịp. Sau khi tàu khởi hành lại, trong một buổi tối sáng Trăng khi cô Linnet đã đi ngủ, Jacqueline và Simon quay ra tranh cãi kịch liệt tới mức Jacqueline rút súng ra bắn vào chân người yêu cũ. Mặc dù bị thương, Simon Doyle vẫn bình tĩnh đề nghị hai người chứng kiến vụ việc là Fanthorp và cô Cornelia Robson dìu Jacqueline về phòng để tránh cô tự làm hại bản thân trước khi nhờ tới sự chăm sóc của bác sĩ, Jacqueline de Bellefort sau đó được cô Bowers cho uống thuốc ngủ và thức trông cho tới sáng. Khi bác sĩ Bessner đang sơ cứu cho Doyle tại phòng riêng thì Fanthorp quay trở lại phòng lớn để tìm khẩu súng nhưng kỳ lạ là nó đã biến mất.

Sáng hôm sau cả chuyến tàu trở nên náo loạn khi cô hầu Louise phát hiện ra người chủ của mình, Linnet Doyle đã chết vì bị bắn thẳng vào đầu bằng một khẩu súng lục. Khẩu súng sau đó được vớt lên từ sông Nile cùng với chiếc khăn của bà Schuyler bị mất trong buổi tối xảy ra vụ cãi vã. Cuộc thẩm vấn của thám tử Poirot cùng đại tá Race chưa đi đến kết quả thì đến lượt cô hầu Louise thiệt mạng, cô bị đâm bằng dao phẫu thuật trong khi tay vẫn đang nắm chặt một mẩu tiền Pháp. Lập tức nữ nhà văn Otterbourne thông báo cho Poirot và Simon Doyle biết rằng mình đã trông thấy kẻ giết Louise, mà theo bà cũng là kẻ giết cô Linnet. Chưa kịp nói đến danh tính tên giết người thì bà Otterbourne đã bất ngờ bị bắn chết, kẻ thủ ác đã dùng khẩu súng của người khách Mỹ Pennington sau đó bỏ lại ngay ở hiện trường.

Với toàn bộ chứng cứ, lời khai thu thập được, sau một hồi suy luận, thám tử Poirot dần đoán ra hung thủ là ai. Ông cho gọi từng hành khách vào phòng vấn và phác họa cho họ cái cách mà chính họ có thể ra tay để giết những nạn nhân trên tàu. Người cuối cùng được ông gọi đến là cô Jacqueline de Bellefort. Poirot đã làm thanh tra Race và bác sĩ Bessner bất ngờ khi tuyên bố đây là một trong hai thủ phạm của ba vụ án mạng, người kia đương nhiên là Simon Doyle. Theo đó thực ra Jacqueline đã không bắn vào chân Simon mà chỉ bắn vào tường, về phần mình, Simon lợi dụng lúc mọi người đưa Jacqueline về phòng và đi gọi bác sĩ Bessner đã lẻn lên phòng Linnet và giết chết vợ mình bằng khẩu súng của Jacqueline, sau đó Doyle quay lại phòng lớn và tự bắn vào chân mình. Cả Simon và Jacqueline không ngờ rằng Louise đã trông thấy vụ việc, cô hầu gái không khai cho thám tử Poirot mà tìm cách tống tiền hai thủ phạm. Lợi dụng lúc Louise đang đếm tiền, Jacqueline đã dùng chiếc dao mổ lấy từ phòng bác sĩ Bessner để giết chết cô hầu. Một lần nữa Jacqueline bị bà Otterbourne phát hiện, ở lần này Simon kịp la lớn để người đồng phạm ở phòng bên cạnh biết tin và dùng súng giết chết nữ nhà văn. Hercule Poirot cũng tìm ra kẻ đã đẩy tảng đá xuống đầu vợ chồng Doyle ở đền thờ là Pennington, người muốn giải quyết những vụ làm ăn lập lờ ở Mỹ bằng việc giết Linnet, còn nhà khảo cổ nóng tính Richetti thực tế lại chính là tên giết người mà đại tá Race truy tìm.

Khi tàu cập cảng và cảnh sát đợi sẵn trên bờ, Jacqueline de Bellefort bất ngờ rút súng lục ra bắn chết người yêu Simon Doyle và sau đó tự tử. Vụ án kết thúc.

(Trích “Án mạng trên sông Nile”, Agatha Christie, NXB Trẻ, 2012)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Nêu bối cảnh chính (không gian và hoàn cảnh) diễn ra các sự kiện trong đoạn trích.

Câu 3. Tóm tắt nội dung chính của đoạn trích (khoảng 3–5 dòng).

Câu 4. Vì sao Jacqueline de Bellefort luôn theo đuổi vợ chồng Simon Doyle trong chuyến đi nghỉ tuần trăng mật?

Câu 5. Những sự việc bất thường nào đã xảy ra trên con tàu trước khi thi thể của Linnet Doyle được phát hiện?

Câu 6. Sau khi Linnet Doyle bị sát hại, những vụ việc nào tiếp tục xảy ra khiến vụ án trở nên phức tạp hơn?

Câu 7. Dựa vào quá trình điều tra, Hercule Poirot đã suy luận như thế nào để xác định thủ phạm của các vụ án?

Câu 8. Qua cách phá án của Poirot, em nhận xét đặc điểm nổi bật của nhân vật thám tử này.

Câu 9. Theo em, vì sao Simon Doyle và Jacqueline de Bellefort lại lên kế hoạch giết Linnet Doyle?

Câu 10. Theo em, nguyên nhân sâu xa nào đã dẫn đến bi kịch của các nhân vật trong câu chuyện?

Câu 11. Từ câu chuyện trên, em rút ra bài học gì về lòng tham, tình yêu và trách nhiệm đối với hành vi của con người? (khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 8: MẬT MÃ ĐA VINCI (Trích “Mật mã Da Vinci”, Dan Brown)

Đọc văn bản sau đây:

MẬT MÃ ĐA VINCI (Trích)

Cuộc truy đuổi trong Lâu đài Rosslyn

Đêm 23 tháng 12 năm 2005

1 giờ 30 phút sáng

Robert Langdon và Sophie Neveu lao vọt qua cánh cổng sắt rỉ sét của Lâu đài Rosslyn, một tòa lâu đài cổ kính nằm trên đỉnh đồi dốc đứng ở ngoại ô Edinburgh. Họ đang bị Silas, một thành viên cuồng tín của tổ chức Opus Dei, truy đuổi ráo riết.

Silas, một gã đàn ông to lớn với mái tóc đen nhánh và đôi mắt xanh lạnh lùng, đang đuổi theo họ bằng tất cả sức lực. Hắn ta tin rằng Langdon và Neveu biết vị trí của Chén Thánh, một vật thánh quan trọng của Thiên Chúa giáo, và hắn ta sẽ không dừng lại cho đến khi có được nó.

Langdon và Neveu chạy qua khu vườn hoang vắng, những tán cây phủ đầy tuyết trắng che khuất tầm nhìn của họ. Tiếng thở hổn hển của họ vang vọng trong màn đêm tĩnh mịch.

Bỗng nhiên, Langdon vấp ngã và ngã xuống đất. Neveu dừng lại và giúp anh ta đứng dậy.

“Đi nhanh lên!” Langdon thúc giục. “Hắn ta sắp đuổi kịp chúng ta rồi!”

Họ tiếp tục chạy, hướng về phía tòa tháp cao chót vót của lâu đài. Đây là nơi họ hy vọng có thể tìm thấy manh mối dẫn đến Chén Thánh.

Khi họ đến được cửa lâu đài, Langdon nhận ra rằng nó đã bị khóa. Anh ta tuyệt vọng lục lọi túi áo, tìm kiếm chìa khóa mà họ đã lấy được từ Pierre Plantard trước đó.

May mắn thay, anh ta tìm thấy chìa khóa và mở được cửa. Họ lao vào bên trong lâu đài, đóng cửa lại sau lưng.

Bên trong lâu đài tối đen như mực. Langdon và Neveu mò mẫm trong bóng tối, tìm kiếm lối đi.

Bỗng nhiên, họ nghe thấy tiếng bước chân dồn dập phía sau. Silas đang đến gần!

Langdon và Neveu hoảng sợ, chạy vội vào một căn phòng nhỏ bên cạnh hành lang. Họ đóng cửa phòng và nín thở chờ đợi.

Silas đến trước cửa phòng và gõ mạnh.

“Mở cửa!” hắn ta hét lên. “Tôi biết các người ở trong đó!”

Langdon và Neveu nhìn nhau lo lắng. Họ biết rằng họ không thể trốn mãi được.

Langdon nghĩ ra một kế hoạch. Anh ta nói với Neveu rằng hãy ở lại trong phòng và chờ đợi. Sau đó, anh ta mở cửa phòng và bước ra ngoài.

Silas nhìn thấy Langdon và nở một nụ cười man rợ.

“Đã đến lúc chết!” hắn ta nói.

Silas lao vào Langdon, nắm chặt cổ họng anh ta. Langdon cố gắng chống trả, nhưng Silas quá mạnh.

Neveu nghe thấy tiếng vật lộn từ bên trong phòng và biết rằng Langdon đang gặp nguy hiểm. Cô ta mở cửa phòng và lao ra ngoài.

Silas nhìn thấy Neveu và buông Langdon ra. Hắn ta nhào về phía cô ta, con dao sáng loáng trong tay.

Neveu hét lên và lùi lại. Cô ta biết rằng mình không thể đánh lại Silas.

Bỗng nhiên, một tiếng súng vang lên. Silas ngã gục xuống đất, máu chảy ra từ ngực anh ta.

Langdon và Neveu nhìn nhau kinh ngạc. Họ không biết ai đã bắn Silas.

Một bóng người bước ra khỏi bóng tối. Đó là Fache, đội trưởng Sở Cảnh sát Hình sự Pháp, người đã theo đuổi Langdon và Neveu từ Louvre.

Fache đi đến chỗ Silas và kiểm tra xem hắn ta còn sống hay không.

“Hắn ta đã chết,” Fache nói. “Các người an toàn rồi.”

Langdon và Neveu thở phào nhẹ nhõm. Họ biết rằng họ đã thoát khỏi một nguy cơ chết người.

Fache nhìn Langdon và Neveu một cách nghiêm túc.

“Các người cần phải giải thích mọi chuyện cho tôi nghe,” Fache nói. “Tôi biết các người đang tìm kiếm Chén Thánh. Và tôi biết rằng các người biết nhiều hơn những gì các người đang nói.”

Langdon và Neveu nhìn nhau lo lắng. Họ biết rằng họ không thể che giấu Fache nữa. Họ cần phải nói cho anh ta biết sự thật về hội Tam Hiệp và bí mật của họ.

(Trích “Mật mã Da Vinci”, Dan Brown, NXBVH-TT,2006)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Chỉ ra một câu là lời của người kể chuyện và một câu là lời thoại của nhân vật trong văn bản.

Câu 3. Không khí hoặc hoàn cảnh mở đầu của đoạn trích được miêu tả như thế nào? Chi tiết đó góp phần gợi lên bầu không khí của câu chuyện ra sao?

Câu 4. Chi tiết hoặc hành động nào trong đoạn trích đóng vai trò manh mối quan trọng giúp các nhân vật dần khám phá sự thật?

Câu 5. Trong đoạn trích, Silas được xây dựng như một nhân vật phản diện với những đặc điểm gì?

Câu 6. Chi tiết tiếng súng vang lên và Silas ngã gục xuống đất có ý nghĩa gì trong diễn biến của câu chuyện?

Câu 7. Qua hành động và cách ứng phó trong tình huống nguy hiểm, em hãy nhận xét đặc điểm của nhân vật Robert Langdon.

Câu 8. Sự xuất hiện của nhân vật Fache ở cuối đoạn trích đã làm thay đổi tình huống câu chuyện như thế nào?

Câu 9. Từ cách các nhân vật đối mặt với nguy hiểm và truy tìm bí mật, em hãy nêu một số cách rèn luyện khả năng quan sát, suy luận và xử lí tình huống trong học tập và cuộc sống (trình bày khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 9: MỘT ÔNG GIÁO KIÊM NHÀ TRINH THÁM (Trích Chiếc tất nhuộm bùn, Phạm Cao Củng)

Đọc văn bản sau đây:

MỘT ÔNG GIÁO KIÊM NHÀ TRINH THÁM (Trích)

(Tóm lược đoạn đầu: Thầy giáo Hy bị mất chiếc đồng hồ để trong túi áo ba-đờ-suy treo trong lớp học. Thầy trách phạt Kỳ Phát vì cho rằng cậu đã lấy chiếc đồng hồ đó trong giờ ra chơi).

[…] Sâm đưa Kỳ Phát ra cửa, sực nhớ, hỏi rằng:

– À, nhưng vì ai nói mà anh biết được việc này?

Kỳ Phát lắc đầu:

– Không, có ai biết mà nói được! Để tôi cắt nghĩa cho anh nghe, chỉ nhờ có chỗ 8 giờ kém 5 mà tôi tìm được ra người đã lấy, nói trót cầm thì đúng hơn, chiếc đồng hồ của thầy giáo Hy.

Thấy Sâm ngạc nhiên không hiểu, Kỳ Phát tiếp:

– Anh nên để ý một điều là: thầy giáo Hy sáng hôm ấy đến trường lúc 7 giờ 15. Vì thầy cần lên Hà Nội nên lấy đồng hồ lại, để chậm 15 phút vì lẽ đồng hồ thầy chạy nhanh, như vậy thì lên đến Hà Nội, đồng hồ sẽ vừa đúng. Vậy mà lúc vào học, thầy lấy đồng hồ xem, thấy đồng hồ chết và kim chỉ 8 giờ kém 5. Anh hãy nghĩ mà coi, đồng hồ của thầy giáo tuy nhanh nhưng có phải trong khoảng non một giờ đồng hồ (từ 7 giờ đến 8 giờ) đồng hồ có thể chạy nhanh lên được tới trên 15 phút không? Thực là vô lí. Như vậy, ta có thể biết chắc rằng trước khi thầy giáo vào lớp học, áo ba-đờ-suy còn treo ở trên mắc, thì đã có người lên lấy đồng hồ ra, vặn lại rồi. Tôi đoán hẳn phải có một anh bạn nào tính tò mò, nhân vào sớm giờ thấy áo thầy giáo treo trên mắc, biết trong đó có đồng hồ nên tinh nghịch lén lấy ra mở, xem máy, vặn đi vặn lại và bởi vậy làm cho đồng hồ hỏng máy không chạy nữa!

Rồi đến giờ vào học, anh chàng ấy mới vội vàng bỏ đồng hồ vào túi trả thầy, tưởng rằng thầy sẽ không để ý đến, ngờ đâu, vừa vào lớp, thầy đã giở đồng hồ ra rồi. Và cũng bởi thế anh chàng kia sợ hãi, chờ cho đến giờ chơi, lại lẻn vào lớp, định lấy đồng hồ mở máy ra chữa. Song loay hoay chưa kịp lắp vào trả, vả lại đồng hồ cũng chưa chạy, anh chàng kia chợt thấy tôi ở ngoài vào (mãi về sau tôi mới nhớ lúc ra chơi tôi có bỏ lớp ra ngoài mất một lúc) không giấu đi đâu kịp, vội vàng bỏ đồng hồ vào túi và chạy ra khỏi lớp. Anh chàng này, không định lấy đồng hồ vậy mà thành ra ăn cắp bất đắc dĩ…

Sâm chú ý nghe Kỳ Phát, tỏ vẻ kính phục mà nói rằng:

– Anh kể việc đã xảy ra đúng như hệt chính mắt anh trông thấy vậy. Tôi đã hiểu từ chỗ 8 giờ kém 5 mà anh luận ra có kẻ nghịch đồng hồ trước khi vào học, nhưng tôi cũng chưa biết vì đâu mà anh biết tôi chính là thủ phạm.

Kỳ Phát gật đầu:

– Khi đã biết thế, tôi chỉ còn nhớ ra xem trong lớp thường có những bạn nào hay đến trường sớm và hay cất sách trước vào lớp để ra sân chơi. Tôi thấy có ba, bốn anh nhưng để ý tìm tòi, không thấy cặp ai có dấu gì khả nghi cả (vì tôi đoán có lẽ anh chàng ăn cắp bất đắc dĩ ấy không dám mang đồng hồ ra khỏi lớp ngay). Khi tìm đến chỗ anh ngồi thì tình cờ tôi thấy trên mặt bàn có vết dầu máy, khi tôi lấy giấy thấm lên lau thì vết dầu lại càng rõ rệt. Như vậy thì chắc chắn anh đã tháo máy đồng hồ để lên bàn rồi còn gì nữa.

(Phạm Cao Củng, Chiếc tất nhuộm bùn, NXB Công an nhân dân, 2018, tr. 63 – 67)

* Chú thích: Phạm Cao Củng (1913 – 2012) là nhà văn chuyên viết truyện trinh thám, nổi tiếng trước năm 1945. Ông được xem là “Vua truyện trinh thám Việt Nam” và cũng được coi là người viết truyện trinh thám đầu tiên của Việt Nam.

Thực hiện các yêu cầu sau đây:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Chỉ ra một câu là lời của người kể chuyện và một câu là lời thoại của nhân vật trong văn bản.

Câu 3. Hoàn cảnh nào đã dẫn đến việc thầy giáo Hy nghi ngờ Kỳ Phát lấy chiếc đồng hồ?

Câu 4. Chi tiết “đồng hồ chết và kim chỉ 8 giờ kém 5” đóng vai trò như thế nào trong việc giúp Kỳ Phát suy luận ra sự việc?

Câu 5. Từ những dữ kiện nào, Kỳ Phát đã suy luận rằng chiếc đồng hồ đã bị một bạn học tò mò mở ra xem trước giờ vào học?

Câu 6. Kỳ Phát đã phát hiện ra Sâm là người cầm chiếc đồng hồ nhờ vào dấu hiệu nào?

Câu 7. Qua cách suy luận và phân tích sự việc, em hãy nhận xét phương pháp suy luận của nhân vật Kỳ Phát.

Câu 8. Qua câu chuyện, em nhận xét phẩm chất nổi bật của nhân vật Kỳ Phát với tư cách như một “nhà trinh thám”.

Câu 9. Từ cách quan sát và suy luận của Kỳ Phát, em hãy nêu một số cách rèn luyện khả năng quan sát, phân tích và suy luận logic trong học tập và cuộc sống (khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 10: NGƯỜI PHẢI CHẾT  (Trích Lê Phong phóng viên, Thế Lữ)

Đọc văn bản sau:

NGƯỜI PHẢI CHẾT (trích)

(Lược dẫn: Mọi người tập trung rất đông ở trước Đông Dương đại học đường để chờ đón vị bác sĩ trẻ tài ba Trần Thế Đoàn nhưng đã quá giờ mà chưa thấy anh ta đâu. Có người cho rằng “Anh này có vẻ một danh nhân muốn cho mọi người chờ đợi mình…” Trong số những người đứng chờ ở đó có một phóng viên trẻ tuổi – Lê Phong. Không để ý đến vẻ náo động của đám đông, anh ta cứ đi đi lại lại một cách lơ đãng, thỉnh thoảng đứng lại biên mấy chữ lên một cuốn sổ tay. Rồi lại thản nhiên lững thững đi trong phòng như đi giữa chỗ vắng. Tuy vậy, ai nhận kỹ, cũng thấy đôi mắt anh ta vẫn tinh nhanh và quan sát từng cử chỉ của mọi người, quan sát rất chóng nhưng rất chu đáo. Nét mặt linh động với cái miệng mím lại chốc chốc thoáng qua. Rồi người bác sĩ họ Trần cũng đến, một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng trong 3 phút đã diễn ra….)

Người thiếu niên bỗng hỏi một câu đột nhiên:

– Lúc nãy ông ở nhà viết một bức thư dài phải không ? Ông cần viết đến nỗi chút nữa thì lỡ mất một việc quan trọng là hôm nay có cuộc phát bằng long trọng.

Đoàn kinh ngạc nhìn người thiếu niên thì anh ta tiếp:

– Mà lại vừa nhận được một bức thư lạ, một bức thư làm cho ông bối rối có phải không?

Vẻ kinh ngạc của Đoàn lại càng rõ rệt, nhưng người thiếu niên cứ bình tĩnh nói, tiếng hạ thấp, có ý chỉ riêng Đoàn nghe.

– Thưa ông, bức thư ấy nói những gì, xin ông cho biết.

Bây giờ Đoàn mới trấn định được tâm trí, hỏi lại người thiếu niên:

– Những điều ấy có liên lạc gì với việc ông phỏng vấn tôi?

– Vâng! Không có liên lạc gì, hay chỉ liên lạc ít thôi, nhưng đó là điều rất quan hệ. Thưa ông Trần Thế Đoàn, xin ông nghe tôi và trả lời cho tôi rành mạch. Ông có những kẻ thù ghê gớm toan hại ông, những kẻ thù ấy ông có biết không và nếu biết, ông có rõ được một chút gì về mưu mô của họ không?

Đoàn lúc ấy lại nhìn người thiếu niên một cách rất kỳ dị,chưa kịp đáp thì anh ta lại nói:

– Xin ông cho biết, đó là những điều cực kỳ quan trọng, vì. . .

Đoàn bỗng hỏi:

– Nhưng ông là ai?

– Tôi là phóng viên báo “Thời Thế”.

– Vâng. Nhưng là người… Tên ông là gì?

– Tên tôi là Lê Phong, và là người rất có cảm tình với ông.

– Ông Lê Phong! Tôi vẫn biết tiếng ông… Tôi định đến thăm ông để hỏi những việc riêng và cần ông giúp.

Lê Phong đáp:

– Càng hay, vì những việc riêng ấy chính lúc này là lúc ông nên nói ra.

– Không, tôi không nói ở đây được xin mời ông lại chơi nhà hay chốc nữa ra, tôi sẽ xin đến báo “Thời Thế”. Bây giờ (Đoàn nhìn đồng hồ) bây giờ gần đến giờ rồi, xin lỗi ông. À mà tại sao ông biết?

– Biết gì kia?

– Biết các điều ông hỏi tôi. Ông biết từ bao giờ?

-Vừa rồi.

-…?…

– Vâng. Vết mực ở ngón tay ông, ông viết bức thư dài, ông chưa kịp rửa tay, và đến muộn, còn bức thư mới nhận được, ông nhét nó vào túi áo một cách cũng vội vã đến nỗi để tôi trông thấy mé phong bì nhô lên. . . Còn về những kẻ thù của ông thì tôi cũng vừa mới thấy trong lúc tôi nói chuyện với ông, tôi vẫn để ý đến hai người lạ mặt đứng cách đây ngót 10 thước và nhìn ông một cách hằn học không biết ngần nào. Chúng lẩn xa rồi.

Nhưng tôi vẫn nhận được: một người ăn vận quần áo tím thẫm, đeo kính trắng, quấn phu la tuy trời không rét lắm, còn người kia thì rỗ hoa mặc quần áo màu tro, cao lớn, và cụt một tay.

Đoàn kêu sẽ lên một tiếng:

-Trời ơi! Người cụt tay?

-Vâng cụt tay trái, tay ấn thọc luôn vào túi, nhưng tôi vẫn chú ý nên không giấu được tôi…

Đoàn nhắc đi nhắc lại:

– Người cụt tay? Trời ơi! Tôi hiểu rồi, suốt mấy ngày nay, khi ở trường ra, khi sắp bước vào nhà, khi đi xem chiếu bóng hay ở hiệu cao lâu, lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, tôi thường gặp hắn, tôi cũng chú ý đến cái tay cụt ấy, nhưng tôi không ngờ gì… Đến bây giờ…

Mặt Đoàn tái xanh đi. Chàng hốt hoảng nhìn ra, không trả lời những tiếng chào hỏi của những người bạn qua đấy như trước nữa. Chàng thốt nhiên nắm lấy tay Lê Phong:

– Ông Lê Phong, nếu vậy thì tính mệnh tôi nguy mất, tính mệnh tôi nguy thật, ông. . . Tôi nhờ ông tìm giúp kẻ thù tôi nhé . . .ông ngăn cản hộ, tôi biết chỉ ông ngăn cản nổi…

Giọng nói mỗi lúc một thêm van vỉ:

– Vâng, xin ông giúp tôi, ông cứu tôi… Trời! Đến lúc này,việc tôi sắp thành, kết quả gần thấy rồi, mà… Hôm nay là một ngày quan trọng trong đời tôi, nhưng tôi cũng không được vui mấy.

– Thế ra ông biết cách hành động của kẻ thù đã lâu.

– Tôi biết gì? Có lẽ tôi ngờ thôi… Tôi vẫn ngờ rằng có kẻ muốn hại tôi, nhưng mãi hôm nay, mãi lúc này, tôi mới biết rõ.

-Thế sao ông không đi trình sở Liêm phóng?

– Tôi cũng định thế, nhưng xét ra có điều bất tiện. Ông Lê Phong, ông tìm ra nhé! ông đi bắt ngay hộ hai đứa nhé. Tôi đến điên cuồng lên mất?

Lê Phong ôn tồn nói:

– Đi bắt! Tôi chỉ là người nhà báo. . . Vả lại chúng nó không ở đây nữa, chúng hẳn tránh xa rồi.

– Ông chắc không?

Lê Phong toan trả lời “Tôi đoán thế”. Nhưng muốn an ủi Đoàn, anh ta nói:

– Chắc. Nhưng ông vẫn phải đề phòng cẩn thận. Bây giờ xin ông cứ yên tâm vào giảng đường vì hình như đến giờ rồi. À quên, ông đứng lại để tôi chụp ông bức ảnh.

Bấm xong bức ảnh. Lê Phong bắt tay người thiếu niên bác sĩ lúc đó vừa có người ra gọi, rồi lững thững đến ngồi lên một cái ghế dài gần cửa, cặm cụi viết lên cuốn sổ tay.

Anh ta vừa viết được cái đầu đề:

-“Một cuộc phỏng vấn vội vàng. Mấy phút cùng thiếu niên bác sĩ Trần Thế Đoàn, một nhà thông thái kỳ dị…”

Bỗng đập tay xuống ghế chép miệng:

– Ồ ngốc chưa ! Vội gì thì vội, nhưng quên không xem bức thư lạ lùng kia thì ngu thực…

Ngẫm nghĩ một lát, lấy đồng hồ xem. Lê Phong toan đứng dậy, nhưng vẫn ngồi yên. Anh tắc lưỡi một cái, rồi viết rất nhanh, vừa viết vừa đưa mắt nhìn mấy người đến chậm vội vã bước vào giảng đường.

Lúc bốn trang giấy nhỏ đã đầy chữ. Lê Phong bước ra ngoài, đến bên một người ghếch xe đạp đợi ở vệ đường, đưa cái “Tin” mới xé ở sổ tay ra cho hắn và dặn:

– Anh về ngay tòa báo, bảo sửa qua bài tôi viết, rồi đăng ngay, cần lắm. Trang nhất, đầu đề rất to, mau lên cho kịp số hôm nay.

Rồi ngoắt quay vào, anh lẩm bẩm nói một cách rất sung sướng:

– Nào! Lê Phong, đem hết sức hết trí ra! Câu chuyện không đến nỗi tầm thường lắm.

Sắp bước lên thang để vào chỗ dành riêng cho các phóng viên, Lê Phong chợt để ý đến một mảnh giấy nhỏ rơi dưới đất. Anh nhặt lên và bất giác kêu lên một tiếng sẽ: “Ô! lạ chưa!”.Trên mảnh giấy có mấy hàng chữ này, lối chữ in hoa, vạch bằng bút chì:

“Lê Phong, anh coi chừng đó, đừng dúng tay vào việc này mà mang họa. Hôm nay Trần Thế Đoàn phải chết, nhưng anh không được tìm, được hiểu, được trông thấy, nghe thấy một điều gì”.

(Trích Lê Phong phóng viên, Thế Lữ, NXB Đời Nay năm 1944)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Chỉ ra một câu là lời của người kể chuyện và một câu là lời thoại của nhân vật trong văn bản.

Câu 3. Trong cuộc trò chuyện với bác sĩ Trần Thế Đoàn, Lê Phong đã đưa ra những chi tiết nào để suy đoán rằng ông vừa viết một bức thư dài và nhận được một bức thư lạ?

Câu 4. Nhân vật Trần Thế Đoàn có phản ứng như thế nào khi nghe Lê Phong nói về những kẻ thù đang theo dõi mình?

Câu 5. Hai người lạ mặt mà Lê Phong quan sát được có những đặc điểm nhận dạng nào? Những chi tiết đó cho thấy điều gì về khả năng quan sát của nhân vật?

Câu 6. Vì sao Trần Thế Đoàn lại nhờ Lê Phong tìm giúp kẻ thù thay vì trình báo với cơ quan chức năng?

Câu 7. Chi tiết mảnh giấy cảnh cáo Lê Phong ở cuối đoạn trích có ý nghĩa gì đối với diễn biến của câu chuyện?

Câu 8. Qua những hành động và suy luận trong đoạn trích, em hãy nhận xét về phẩm chất và năng lực của nhân vật Lê Phong.

Câu 9. Từ cách Lê Phong quan sát và suy luận để phát hiện nguy hiểm, em hãy nêu một số cách rèn luyện khả năng quan sát và tư duy suy luận trong học tập và cuộc sống (trình bày khoảng 5–7 dòng).

ĐỀ BÀI 11: Sự bí ẩn ở Lauriston Gardens (Sherlock Holmes toàn tập)

Đọc văn bản sau:

(Giới thiệu: Đoạn trích dưới đây trích từ “Chương 3. Sự bí ẩn ở Lauriston Gardens” trong truyện “Chiếc nhẫn tình cờ”, kể về một vụ án mạng mà Sherlock Holmes đang có mặt tại hiện trường để tiến hành điều tra. Ngoài Sherlock Holmes còn có nhân vật người kể chuyện (xưng “tôi”) và các nhân vật tham gia vào cuộc điều tra phá án là hai viên thanh tra Gregson và Lestrade.)[…]

“Ông Gregson”, ông ta nói, “tôi vừa phát hiện một chi tiết cực kì quan trọng, mà chắc sẽ bị bỏ sót nếu như không có tôi đây kiểm tra kĩ các bức tường”. Người đàn ông thấp bé này miệng nói mà ánh mắt cứ sáng rực lên; rõ ràng là ông ta đang cố kiềm chế sự đắc chí vì đã thắng được đồng nghiệp một điểm.

“Tới đây”, ông ta vừa nói vừa lăng xăng quay lại căn phòng, không khí bên trong dường như sáng sủa hơn từ khi cái xác kia được chuyển đi. “Đấy, cứ đứng ở đó!”. Ông ta quẹt một que diêm rồi đưa ánh lửa lên sát bức tường. “Nhìn đây này!”. Lestrade đắc thắng reo lên. “Lúc trước tôi đã nói là các tấm giấy dán tường đã bong tróc nhiều chỗ. Ở ngay góc phòng này, một miếng giấy lớn đã được lột ra, phơi ra một mảng vôi vữa màu vàng hình vuông. Vắt ngang qua khoảng trống này là những mẫu tự màu đỏ máu nguệch ngoạc thành một từ duy nhất: RACHE.”

“Quý vị thấy sao?”. Viên thanh tra thốt lên với giọng điệu của một ông bầu gánh xiếc đang quảng cáo chương trình. “Chi tiết này bị bỏ sót vì nó nằm trong góc tối nhất của căn phòng và không người nào nghĩ đến chuyện nhìn nó ở đây. Kẻ sát nhân đã viết bằng chính máu của y hay của ai đó. Hãy xem chỗ nhỏ nơi máu chảy giọt xuống tường đây này. Nó đã đập tan giả thuyết đây là vụ tự sát. Tại sao lại chọn cái góc đó mà viết? Tôi nói cho quý vị rõ. Hãy nhìn cây nến trên bệ lò sưởi kia. Nó được thắp sáng vào lúc đó và nếu nến thắp sáng thì góc này chính là nơi sáng sủa nhất chứ không phải mảng tường tối nhất.”

“Giờ ông đã tìm thấy rồi, nó có ý nghĩa gì vậy?” Gregson hỏi với giọng khinh thường.

“Ý nghĩa? À! Nó có nghĩa là người viết đã định viết chữ RACHEL, một cái tên của phụ nữ, nhưng đã bị gián đoạn trước khi y hay ả kịp viết xong. Hãy nhớ lời tôi đi, khi vụ này đã sáng tỏ, quý vị sẽ thấy có một phụ nữ tên Rachel dính líu vào đây. Ông cứ việc cười cho thoả mãn đi, thưa ông Sherlock Holmes. Ông có thể rất nhanh trí và thông minh, nhưng xét về mọi mặt thì con chó săn già vẫn là cừ khôi nhất.”

“Tôi thật lòng xin lỗi ông.” Anh bạn tôi lên tiếng sau khi đã khiến con người thấp bé kia mếch lòng vì một tràng cười ầm ĩ. “Chắc chắn ông được ghi công là người đầu tiên trong chúng ta phát hiện ra điều này và như ông nói, mọi dấu vết đều cho thấy những mẫu tự này được viết bởi một kẻ khác đã tham gia vào vụ án bí ẩn đêm qua. Tôi chưa có thời gian để kiểm tra căn phòng, nhưng xin phép ông bây giờ tôi sẽ kiểm tra.”

Vừa nói anh vừa rút trong túi ra một cái thước dây và một chiếc kính lúp tròn cỡ lớn. Với hai dụng cụ này, anh thong thả đi khắp phòng mà không hề gây ra tiếng động nào, lúc thì đứng bước, lúc thì quỳ xuống và có lần anh nằm dài úp mặt xuống sàn. Anh mê mải với công việc này tới mức dường như quên mất sự hiện diện của chúng tôi, bởi anh cứ liên tục lẩm bẩm một mình, cứ không ngừng thốt ra hết những tràng cảm thán, rên rỉ rồi huýt sáo và những tiếng kêu khe khẽ hàm ý khích lệ hay hi vọng. Quan sát anh, tôi không khỏi liên tưởng đến một con chó săn cáo thuần chủng được huấn luyện kĩ đang sục sạo trong lùm cây, rít rừ đầy hăm hở, cho đến khi đánh hơi được con mồi lạc dấu. Suốt hai mươi phút hoặc hơn, anh cứ tiếp tục vừa săm soi vừa cẩn trọng đo đạc sao cho chính xác nhất khoảng cách giữa các điểm mốc, vốn hoàn toàn vô hình đối với tôi và thỉnh thoảng lại đưa thước dây áp vào mấy bức tường với cùng một cung cách hoàn toàn khó hiểu đó. Ở một vị trí, anh rất cẩn thận gom một đám bụi xám trên sàn rồi cho vào một phong bì cất đi. Anh dùng kính lúp kiểm tra chữ viết trên tường xem xét từng mẫu tự với sự chính xác chi li nhất. Kiểm tra xong, có vẻ như anh hài lòng, vì anh cất thước dây và kính lúp vào túi.

“Người ta thường nói rằng thiên tài là khả năng chịu khó vô biên,” anh vừa nói vừa cười. “Đó là một định nghĩa tầm bậy, nhưng lại đúng với công việc điều tra.”

Với nhiều hiếu kì và có phần khinh miệt, Gregson và Lestrade đã theo dõi ông bạn nghiệp dư thao diễn này giờ. Hiển nhiên họ không hiểu được cái điều mà tôi đã bắt đầu nhận biết, là mọi hành động nhỏ nhất của Sherlock Holmes đều hướng tới một mục tiêu thực tế và xác định nào đó.

“Ông thấy thế nào?”. Cả hai cùng hỏi.

“Nếu tôi mạo muội giúp hai ông thì chẳng khác nào tôi cướp mất công trạng của các ông trong vụ này,” anh bạn tôi nói. “Các ông đã làm giỏi quá rồi thì thật tội nghiệp cho kẻ nào muốn can thiệp vào.”

Trong giọng điệu anh là cả một biển trời châm biếm. “Nếu như các ông cho tôi biết diễn tiến điều tra của các ông,” anh nói tiếp, “thì tôi sẽ rất vui được giúp sức nếu có thể. Còn lúc này tôi muốn nói chuyện với người cảnh binh đã phát hiện ra xác chết. Cho tôi xin tên và địa chỉ của người này được không?”

Lestrade liếc qua sổ tay rồi nói, “John Rance. Bây giờ anh ta hết phiên trực rồi. Ông tới số 46, khu Audley, công viên Kennington, thì sẽ gặp anh ta.”

Holmes ghi lại địa chỉ.

“Đi thôi, bác sĩ,” anh nói, “chúng ta sẽ đi tìm người này.” Rồi anh quay sang hai thanh tra nói tiếp: “Tôi cho các ông hay một điều có thể giúp ích cho vụ này. Án mạng đã xảy ra và kẻ sát nhân là đàn ông. Y cao hơn sáu feet, đang ở độ tuổi sung mãn nhất của cuộc đời, có hai bàn chân nhỏ so với chiều cao, đi đôi giày cổ cao tồi tàn mũi vuông và hút xì gà Trichinopoly. Y tới đây cùng với nạn nhân trên một chiếc xe ngựa bốn bánh, con ngựa kéo xe đóng ba móng sắt cũ và một móng mới ở chân trước bên phải. Rất có thể kẻ sát nhân có gương mặt đỏ ửng và những móng tay trên bàn tay phải của y rất dài. Đây chỉ là vài dấu hiệu nhưng chúng có thể giúp ích cho các ông.”

Lestrade và Gregson nhìn nhau với nụ cười hoài nghi. Lestrade hỏi, “Nếu người này bị sát hại thì sát hại bằng cách nào chứ?”

“Độc dược,” Sherlock Holmes nói cộc lốc rồi sải bước đi. Ra đến cửa, anh quay lại nói thêm: “Còn điều này nữa, Lestrade, Rache là tiếng Đức có nghĩa là ‘báo thù’, cho nên ông đừng có mất công tìm kiếm cô Rachel nào đó làm chi.”

Sau lời nhận xét đanh thép cuối cùng này, anh đi luôn, để lại sau lưng hai đối thủ há hốc mồm sửng sốt.

Chú thích:

Sherlock Holmes nhận lời điều tra khi nhận được bức thư sau của thanh tra Gregson:

“ÔNG SHERLOCK HOLMES QUÝ MẾN!
Đêm qua đã có chuyện dữ ở số 3 Lauriston Gardens, phía đường Brixton rẽ sang. Nhân viên của chúng tôi khi tuần tra thấy ánh đèn đỏ vào khoảng 2 giờ sáng và vì đó là một căn nhà bỏ không nên họ nghi có chuyện bất thường. Nhân viên thấy cửa chính mở toang và trong phòng không hề có đồ đạc gì, đã phát hiện xác chết của một người quý phái, ăn mặc sang trọng, trong túi có những tấm thiếp mang tên Enoch J. Drebber, Cleveland, Ohio, USA. Không hề có dấu hiệu trộm cướp mà cũng không có chứng cứ cho biết người này đã chết như thế nào. Có nhiều vết máu trong căn phòng nhưng không hề có vết thương trên thân thể người chết. Chúng tôi lúng túng không rõ làm sao ông ta lại vào căn nhà bỏ không này; thực tế ông sẽ gặp ở đó. Tôi đã để mọi thứ yên như statuquo cho đến khi được nghe ý kiến của ông. Nếu như ông không đến được, tôi sẽ cung cấp những chi tiết đầy đủ hơn và sẽ hết sức cảm kích nếu như ông có thể giúp cho tôi ý kiến.
Kính thư,
TOBIAS GREGSON”

(In trong Sherlock Holmes toàn tập – tập 1, Sir Arthur Conan Doyle (Mai Loan dịch), NXB Văn học, 2023)

Ở chương tiếp theo, kết quả vụ án đúng như suy luận của Sherlock Holmes.

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Đoạn trích trên kể về sự việc gì xảy ra tại hiện trường vụ án?

Câu 2. Chi tiết quan trọng mà thanh tra Lestrade phát hiện trên bức tường là gì?

Câu 3. Theo Lestrade, từ “RACHE” trên tường có ý nghĩa như thế nào?

Câu 4. Sau khi suy luận về manh mối vụ án, nhân vật Lestrade nói: “Ông cứ việc cười cho thoả mãn đi, thưa ông Sherlock Holmes. Ông có thể rất nhanh trí và thông minh, nhưng xét về mọi mặt thì con chó săn già vẫn là cừ khôi nhất”. Câu nói này thể hiện tính cách gì của nhân vật này?

Câu 5. Chỉ ra một chi tiết trong đoạn trích cho thấy Sherlock Holmes tiến hành điều tra rất tỉ mỉ và khoa học.

Câu 6. Tại sao Sherlock Holmes cho rằng không nên tìm một người phụ nữ tên Rachel?

Câu 7. Suy luận của Sherlock Holmes về manh mối vụ án có gì khác với Lestrade?

Câu 8. Chi tiết hai viên thanh tra Lestrade và Gregson “há hốc mồm sửng sốt” ở cuối văn bản có tác dụng gì?

Câu 9. Qua cách quan sát và suy luận của Sherlock Holmes, em rút ra bài học gì về phương pháp làm việc hoặc cách giải quyết vấn đề trong cuộc sống?

Câu 10: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 5 đến 7 câu) bày tỏ suy nghĩ của bạn về nhân vật Sherlock Holmes trong văn bản trên.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang