Phân tích Bến đò ngày mưa của Anh Thơ

ben-do-ngay-mua-cua-anh-tho

Phân tích “Bến đò ngày mưa” của Anh Thơ

* DÀN BÀI CHI TIẾT:

I. MỞ BÀI:

– Giới thiệu tác phẩm, tác giả:

  • Anh Thơ là gương mặt tiêu biểu của Phong trào Thơ mới. Thơ bà nổi bật với bút pháp tả thực tinh tế, giàu chất hội họa, chuyên viết về cảnh sắc và đời sống nông thôn Bắc Bộ. Giọng thơ nhẹ nhàng, trầm lắng, giàu nữ tính.
  • Bến đò ngày mưa là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Anh Thơ. Bài thơ khắc họa bức tranh bến đò quê trong ngày mưa lạnh, qua đó thể hiện tình yêu tha thiết đối với cảnh và người thôn dã.

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật: Bằng bút pháp tả thực giàu tạo hình, ngôn ngữ giàu từ láy, nhịp điệu chậm rãi, lấy động tả tĩnh, bài thơ tái hiện không gian làng quê vắng lặng, bình dị nhưng thấm đượm hồn quê, qua đó thể hiện tình yêu quê hương sâu kín, sự gắn bó thiết tha và tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ trước những vẻ đẹp đời thường của vùng thôn dã Bắc Bộ.

II. THÂN BÀI:

1. Mạch cảm xúc và bố cục bài thơ

– Mạch cảm xúc triển khai theo trình tự quan sát:

  • Từ cảnh ven sông → bến đò → quán chợ → con đường.
  • Từ không gian gần → xa.
  • Từ thiên nhiên → con người.

– Bài thơ gồm 3 lớp cảnh chính:

  • Cảnh thiên nhiên trong mưa
  • Cảnh sinh hoạt nơi bến vắng
  • Cảnh chuyển động thưa thớt của con người

→ Mạch thơ chậm rãi, phù hợp với nhịp sống thôn quê trong mưa.

2. Phân tích nội dung chủ đề

a. Bức tranh thiên nhiên ven bến trong ngày mưa

– Hình ảnh quen thuộc: tre, chuối, dòng sông, con thuyền.

– Các từ láy giàu sắc thái:

  • “rũ rợi”, “ướt át” → gợi sự nặng nề.
  • “bơ phờ” → gợi mệt mỏi.
  • “rào rạt” → âm thanh của mưa và nước.
  • “chơ vơ” → gợi cô quạnh.

→ Thiên nhiên hiện lên buồn bã, hoang vắng, như mang tâm trạng con người. Nghệ thuật nhân hóa làm cảnh vật có hồn.

b. Cảnh sinh hoạt nơi bến vắng

– Không gian: “bến vắng”, “lạnh lẽo”.

– Hình ảnh quán hàng “đứng co ro” → vừa tả thực vừa gợi cảm giác hiu quạnh.

– Con người:

  • Bác lái đò lặng lẽ hút thuốc.
  • Bà hàng ho sù sụ.

→ Nhịp sống chậm rãi, tẻ nhạt. Con người nhỏ bé giữa không gian mưa lạnh → Tô đậm vẻ buồn và sự tĩnh lặng của bến đò.

c. Không gian mở rộng – sự chuyển động thưa thớt

– Từ ngữ lặp lại: “họa hoằn” → nhấn mạnh sự hiếm hoi.

– Hình ảnh so sánh: “thúng đội dầu như đội cả trời mưa” → gợi sự nhọc nhằn.

– Chuyển động có nhưng rất ít ỏi.

– Kết thúc: “bến lại lặng trong mưa” → trở về trạng thái tĩnh → Nghệ thuật lấy động tả tĩnh làm nổi bật không khí vắng lặng.

→ Bức tranh thấm đượm nỗi buồn man mác.

3. Tâm trạng và tình cảm của nhà thơ

– Không bộc lộ trực tiếp nhưng thấm sâu qua từng chi tiết.

– Sự quan sát tinh tế cho thấy tình yêu quê hương sâu nặng.

– Cảnh quê vừa hoang vắng vừa có hồn → phản ánh tâm trạng bâng khuâng, luyến nhớ.

→ Cảnh quê và tình quê hòa quyện làm nên linh hồn bài thơ.

4. Đặc sắc nghệ thuật

– Bút pháp tả thực giàu tính tạo hình. Chọn chi tiết đời thường nhưng giàu sức gợi.

– Sử dụng nhiều từ láy giàu nhạc tính và sức gợi hình. Từ ngữ mộc mạc, gần gũi.

– Biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh, điệp từ.

– Nghệ thuật lấy động tả tĩnh.

– Nhịp điệu chậm rãi, khoan thai Phù hợp với không gian mưa buồn, làng quê tĩnh lặng.

→ Góp phần tạo nên một bức tranh đồng quê giàu chất hội họa và nhạc tính.

III. KẾT BÀI:

Khẳng định giá trị nội dung: Bút pháp tả thực tinh tế, ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm, nghệ thuật lấy động tả tĩnh đặc sắc, bài thơ tái hiện chân thực bức tranh bến đò quê trong ngày mưa, qua đó thể hiện tình yêu quê hương sâu kín.

– Mở rộng cảm nhận: Gợi trong lòng người đọc nỗi bâng khuâng, yêu thương những vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam.

– Khẳng định vị trí riêng của Anh Thơ trong phong trào Thơ mới.

Bài văn tham khảo:

Phân tích “Bến đò ngày mưa” của Anh Thơ

Bài văn 1:

  • Mở bài:

Trong phong trào Phong trào Thơ mới, Anh Thơ là một giọng thơ nữ đặc biệt: hiền hòa, lặng lẽ nhưng giàu sức sáng tạo. Sau Tương Phố và cùng với các nữ sĩ như Vân Đài, Mộng Tuyết, Hằng Phương, bà góp phần khẳng định sự tiếp nối bền bỉ của truyền thống nữ lưu trong văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Anh Thơ không sôi nổi, mãnh liệt mà thiên về tả thực, tinh tế trong quan sát, sâu lắng trong cảm xúc. Bến đò ngày mưa là một trong những thi phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ tái hiện khung cảnh một bến đò làng quê Bắc Bộ trong ngày mưa lạnh, qua đó gợi lên vẻ đẹp bình dị mà thấm đượm hồn quê, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với cảnh và người nơi thôn dã.

  • Thân bài:

Bài thơ triển khai theo mạch quan sát từ gần đến xa, từ cảnh vật đến con người, từ tĩnh lặng đến những chuyển động thưa thớt. Ngay từ khổ thơ đầu, không gian ven sông hiện ra trong màn mưa xám lạnh:

“Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng giầm mưa.
Và giầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ”.

Những hình ảnh tre, chuối, dòng sông, con thuyền đều rất quen thuộc của làng quê Bắc Bộ. Song qua cái nhìn tinh tế của nhà thơ, chúng như mang tâm trạng. Tre “rũ rợi”, chuối “bơ phờ”, con thuyền “chơ vơ” – các từ láy giàu sắc thái gợi tả đã nhân hóa cảnh vật, khiến thiên nhiên dường như cũng thấm mệt, buồn bã trong mưa. Không gian mở rộng nhưng vắng lặng, chỉ có dòng sông “trôi rào rạt” làm nền cho sự tĩnh mịch bao trùm.

Sang khổ thơ tiếp, điểm nhìn dịch chuyển vào bến vắng và quán nhỏ:

“Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng co ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu,
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho”.

Cảnh vật và con người hòa vào nhau trong cái lạnh mưa phùn. Những quán hàng “đứng co ro” vừa tả thực vừa gợi cảm giác heo hút. Hình ảnh bác lái đò lặng lẽ hút thuốc, bà hàng ho sù sụ làm hiện lên nhịp sống chậm rãi, tẻ nhạt mà chân thực. Con người nơi bến đò không nhộn nhịp, không ồn ào; họ tồn tại lặng lẽ giữa không gian xám lạnh, tạo nên vẻ đẹp mộc mạc của đời sống thôn quê.

Khổ cuối mở rộng không gian ra con đường và bến sông:

“Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội dầu như đội cả trời mưa.
Và họa hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa”.

Từ “họa hoằn” được lặp lại nhấn mạnh sự thưa thớt của sinh hoạt. Hình ảnh so sánh “thúng đội dầu như đội cả trời mưa” gợi cảm giác nặng nề, nhọc nhằn. Sau vài chuyển động hiếm hoi ấy, bến đò lại trở về trạng thái “âm thầm”, “lặng trong mưa”. Nhịp điệu bài thơ vì thế khép lại trong sự tĩnh lặng triền miên.

Qua toàn bộ bức tranh, có thể thấy cảnh quê hiện lên bình dị, hoang vắng và phảng phất buồn. Nhưng ẩn sâu trong đó là một tình yêu quê hương tha thiết. Nhà thơ không trực tiếp bộc lộ cảm xúc, song từng chi tiết tả thực đều thấm đượm sự gắn bó và nâng niu.

Thành công nổi bật của bài thơ là bút pháp tả thực giàu tính tạo hình. Anh Thơ lựa chọn những chi tiết rất đời thường: tre, chuối, quán hàng, con đò, người đi chợ… nhưng qua cách quan sát tinh tế, chúng trở nên có hồn.

Ngôn ngữ thơ giàu sức gợi với hàng loạt từ láy: “rũ rợi”, “ướt át”, “bơ phờ”, “rào rạt”, “chơ vơ”, “lạnh lẽo”, “co ro”, “sù sụ”, “họa hoằn”, “âm thầm”… Những từ ngữ ấy không chỉ tạo nhạc tính mà còn khắc sâu ấn tượng về cái lạnh, cái vắng và nỗi buồn thấm thía của không gian.

Bên cạnh đó, nghệ thuật nhân hóa, so sánh, điệp từ được sử dụng linh hoạt, góp phần làm nổi bật bút pháp “lấy động tả tĩnh”. Có chuyển động của mưa, của dòng sông, của con thuyền ghé bến, nhưng tất cả chỉ càng làm rõ hơn cái tĩnh lặng bao trùm.

Nhịp thơ chậm rãi, đều đặn, phù hợp với việc khắc họa một không gian mưa buồn, qua đó thể hiện rõ phong cách riêng của Anh Thơ – nhẹ nhàng mà sâu lắng.

  • Kết bài:

Bến đò ngày mưa không chỉ là bức tranh tả cảnh đơn thuần mà còn là bức tranh tâm trạng. Với bút pháp tả thực tinh tế, ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm và giọng điệu trầm lắng, bài thơ đã tái hiện chân thực vẻ đẹp bình dị, hoang vắng của làng quê Bắc Bộ trong ngày mưa, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương sâu kín của nhà thơ. Tác phẩm góp phần khẳng định vị trí riêng của Anh Thơ trong phong trào Thơ mới và để lại dư vị man mác buồn, đầy chất thơ trong lòng người đọc.

Bài văn 2:

Phân tích “Bến đò ngày mưa” của Anh Thơ

  • Mở bài:

Anh Thơ là một gương mặt hiền hòa lặng lẽ, nhưng cũng không kém vẻ tân kỳ. Chị đem lại cho Thơ mới một phong cách độc đáo, đặc biệt. Sau Tương Phố mười lăm năm, cùng các nhà thơ nữ đương thời Vân Ðài, Mộng Tuyết, Hằng Phương…, Anh Thơ đã góp phần chứng tỏ truyền thống nữ lưu văn học không hề đứt đoạn, mà càng nảy nở. Thơ của Anh Thơ hiền hòa ở cấu trúc, giọng điệu, ở bút pháp, nhưng tân kì ở những chi tiết. hình ảnh, những câu thơ rất ảo rất say. Bến đò ngày mưa dựng lại một khung cảnh bến đò nhỏ nơi làng quê vào ngày mưa. Nét vẽ thơ là nét tả thực, không bộn bề chi tiết, nhưng cũng gợi được cái hồn xưa cảnh cũ của thôn cảnh xứ Bắc thuở nào.

  • Thân bài:

– Mạch cảm xúc: Bài thơ gợi tả quang cảnh của một bến đò trong ngày mưa. Qua việc khắc họa bức tranh cảnh vật và con người nơi bên đò, Anh Thơ đã gợi lên nét đặc trưng quen thuộc của phong cảnh làng quê Việt. Tuy không trực tiếp khẳng định nhưng tác giả cũng đã bộc lộ tình cảm yêu mến đối với cảnh với người và gởi đến thông điệp về tình yêu đối với những bình dị, thân thuộc của quê hương.

– Hình ảnh: Hình ảnh thiên nhiên quen thuộc, bình dị, được miêu tả sinh động: tre, chuối, bến, dòng sông, con thuyền, vài quán hàng; hình ảnh con người hiện lên chân thực, gần gũi, gợi lên nhịp sống chậm rãi, bình yên nơi thôn quê: một bác lái…, bà già…, người đến chợ…

– Điểm nhìn: Bến đò ngày mưa là tranh thơ được vẽ bằng con mắt đa cảm, con mắt tình quê của nữ sĩ Anh Thơ. Vì vậy, bức tranh là một góc nhìn, ghi lại ấn tượng, cảm xúc về cảnh quê đơn sơ mà có hồn. Cảnh quê, nét nào cũng hoang vắng, bình lặng và buồn; nhưng thấm sâu trong cảnh là tâm trạng bâng khuâng, luyến níu của thi sĩ. Hai nét cảnh quê và tình quê làm nên linh hồn của từng bài thơ

– Sự phát triển của hình tượng chính: Bài thơ mở ra là cảnh ven bờ, đầu bến. Trong không gian nghiêng nghiêng xa cách ấy, những tạo vật tre, chuối, dòng sông, con đò – những hình ảnh quen thuộc ở làng quê Bắc Bộ – như đang phơi mình tắm mưa.

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng giầm mưa.
Và giầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ.

Không gian thơ đã có sự chuyển dịch từ sông đến bến, từ mưa đến lạnh, từ bến vắng đến quán nghèo và hẹp. Đắm mình trong không gian ấy là những quán hàng ế khách đang co ro vì lạnh và hai con người với hai hoạt động “thù nghịch” nhau, nối kết nhau. Ba hình ảnh vừa gợi được cái lạnh của mưa, vừa gợi được không khí vắng lặng của bến đò vừa gợi được sự ấm áp của lòng người.

Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng co ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.

Mạch thơ như mở rộng ra. Không gian ngoại vi bến đò đã có phần đông người hơn.

Ngoài đường lội hoạ hoằn người đến chợ
Thúng đội dầu như đội cả trời mưa
Và hoạ hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.

Khổ thơ có hai nét cảnh với hai không gian con đường và bến sông. Hai không gian gợi sự chuyển vận, gợi sự sống của con người.

– Tính độc đáo của các phương diện ngôn từ:

+ Từ ngữ: tác giả sử dụng nhiều từ ngữ giàu sức gợi hình, rất nhiều từ láy (rũ rợi, ướt át, bơ phờ, rào rạt, chơ vơ, lạnh lẽo, xo ro, sù sụ, họa hoằn, âm thầm) vừa góp phần gợi hình ảnh, vừa góp phần tạo nhạc tính cho bài thơ

+ Biện pháp tu từ:

  • Biện pháp điệp từ “dầm mưa”, “họa hoằn”;
  • Biện pháp nhân hóa và liệt kê, so sánh có tác dụng vừa diễn tả cụ thể, vừa diễn tả sinh động, gợi cái hồn quê nơi bến vắng.

+ Bài được viết theo thể tự do, gieo vần linh hoạt, chủ yếu là vẫn chân (“at, “ơ”, “o”); nhịp thơ chậm rãi, phù hợp với việc miêu tả không gian, nhịp sống nơi làng quê.

Bến đò ngày mưa có cấu trúc chặt chẽ, chi tiết bình thường đã được nhà thơ thổi vào đấy sức sống mới nên có sức hấp dẫn riêng. Cùng với “Chiều xuân”, “Trưa hè”,… bài thơ đã thể hiện rõ nét riêng trong sáng tác của Anh Thơ. Cái đẹp của tác phẩm được tạo thành bởi bút pháp lấy động tả tĩnh, cách sử dụng từ láy, các từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm,…

  • Kết bài:

– Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ.

Bài văn 3:

Phân tích “Bến đò ngày mưa” của Anh Thơ

  • Mở bài:

Thơ ca là tri thức đầu tiên và cuối cùng, nó bất diệt như trái tim con người (William Wordsworth). Thật vậy, thơ là tiếng nói của tình cảm xuất phát từ những rung cảm của trái tim với cuộc đời của người nghệ sĩ. Đến với Bến đò ngày mưa của Anh Thơ là đến với nỗi buồn của một hồn thơ trước cảnh quê mưa giầm, một nỗi buồn lặng như bến cô đơn đang cảm nghe mưa ngoài trời hoá thành mưa trong lòng của một hồn thơ lãng mạn.

  • Thân bài:

Anh Thơ là một gương mặt hiền hòa lặng lẽ, nhưng cũng không kém vẻ tân kỳ. Chị đem lại cho Thơ mới một phong cách độc đáo, đặc biệt. Sau Tương Phố mười lăm năm, cùng các nhà thơ nữ đương thời Vân Ðài, Mộng Tuyết, Hằng Phương…, Anh Thơ đã góp phần chứng tỏ truyền thống nữ lưu văn học không hề đứt đoạn, mà càng nảy nở. Thơ của Anh Thơ hiền hoà ở cấu trúc, giọng điệu, ở bút pháp, nhưng tân kì ở những chi tiết. hình ảnh, những câu thơ rất ảo rất say. Bến đò ngày mưa dựng lại một khung cảnh bến đò nhỏ nơi làng quê vào ngày mưa. Nét vẽ thơ là nét tả thực, không bộn bề chi tiết, nhưng cũng gợi được cái hồn xưa cảnh cũ của thôn cảnh xứ Bắc thuở nào.

Cái hay của bài thơ là mỗi nét vẽ đượm thấm chất hồn nhiên của cảnh quyện lẫn với sự hồn nhiên của tâm hồn thi nhân. Bức tranh bến đò ngày mưa vì thế mà có hồn vía, có nét đẹp riêng.

Bài thơ mở ra là cảnh ven bờ, đầu bến. Trong không gian nghiêng nghiêng xa cách ấy, những tạo vật tre, chuối, dòng sông, con đò – những hình ảnh quen thuộc ở làng quê Bắc Bộ – như đang phơi mình tắm mưa.

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át,
Chuối bơ phờ đầu bến đứng giầm mưa.
Và giầm mưa dòng sông trôi rào rạt
Mặc con thuyền cắm lái đậu chơ vơ.

Tạo vật thiên nhiên tưởng như có chung một nỗi niềm, ngỡ như sum vầy, chung cùng một tình điệu mưa, cùng giầm mưa, ướt át . Thế mà, ở chúng chẳng có sợi tơ mảnh liên hệ nào. Mỗi tạo vật là một hồn đơn, có sự sống riêng. Sở dĩ cảm nhận được như vậy là nhờ nhà thơ đã cài vào thơ những từ ngữ: rũ rượi, chen, bơ phờ, trôi rào rạt, chơ vơ,… rất nghệ thuật ứng với mỗi sự vật. Tre chen chúc nhau tìm hơi ấm. Chuối bất lực đành chịu bơ phờ trong mưa giầm. Dòng sông xuôi nhanh trốn mưa bỏ mặc con đò trơ vơ dưới mưa. Phải có con mắt tinh tế mới khám phá được nét riêng của tạo vật, mới cấp cho chúng một nét đẹp tâm hồn như thế.

Cảnh đầu bến ven bờ là vậy. Còn cảnh bến đò, trung tâm của bức tranh càng vắng lặng hơn trong mưa lạnh.

Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo,
Vài quán hàng không khách đứng co ro.
Một bác lái ghé buồm vào hút điếu
Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.

Không gian thơ đã có sự chuyển dịch từ sông đến bến, từ mưa đến lạnh, từ bến vắng đến quán nghèo và hẹp. Đắm mình trong không gian ấy là những quán hàng ế khách đang co ro vì lạnh và hai con người với hai hoạt động “thù nghịch” nhau, nối kết nhau. Ba hình ảnh vừa gợi được cái lạnh của mưa, vừa gợi được không khí vắng lặng của bến đò vừa gợi được sự ấm áp của lòng người. Giả như khổ thơ không có âm thanh rít lên của điếu thuốc lào, tiếng họ sù sụ vì sặc khói thuốc của bà hàng thì có lẽ thơ cũng chỉ như quán hàng không khách đứng co ro mà thôi. Thơ lúc ấy chỉ là thơ mặt phẳng, đâu còn là thơ sự sống ba chiều.Mạch thơ như mở rộng ra. Không gian ngoại vi bến đò đã có phần đông người hơn.

Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ
Thúng đội dầu như đội cả trời mưa
Và hoạ hoằn một con thuyền ghé chở
Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.

Khổ thơ có hai nét cảnh với hai không gian con đường và bến sông. Hai không gian gợi sự chuyển vận, gợi sự sống của con người. Thế nhưng, sức sống ở làng quê cũng chỉ là hoạ hoằn người, hoạ hoằn thuyền (một hoán dụ nghệ thuật) đứt quãng để lại những khoảng hở lạnh giữa đất trời và trong lòng người.

Hai câu đầu vẽ ra không gian con đường ướt sủng nước mưa lầy lội. Trên con đường đó, những người dân quê thưa thớt đến chợ quê. Cảnh chẳng có chút gì vui. Cuộc sống người dân quê ngày xưa là thế. Người dân quê với những phiên chợ nghèo trong những ngày tạnh ráo đã buồn rồi huống hồ là phiên chợ ngày mưa ! Thế nên, con người có rời rạc đến phiên chợ buồn cũng chẳng có gì là lạ. Anh Thơ hẳn đã sống sâu với người dân quê mới có được một câu thơ thực đến thế. Nhưng nữ sĩ là một nhà thơ lãng mạn nên hình ảnh thơ từ cõi thực đã bay vào cõi ảo: Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Một câu thơ đẹp đến say người. Câu thơ như là một nốt nhấn trong một bản đàn cung trầm. Câu thơ đẹp nhờ một lối so sánh đẹp. Người dân quê nghèo nhưng tâm hồn cũng dào dạt chất thơ.

Hai câu kết là không gian bến sông, nhưng thực ra là cả dòng sông dài qua hoạt động của thuyền đến đỗ bến rồi ra đi. Nhà thơ đã lấy động để nói tĩnh gợi được cái vắng của sông: hoạ hoằn con thuyền đến chở và cái lặng của bến lại lặng trong mưa. Bài thơ mở ra là ven bờ, đầu bến và khép lại với hình ảnh bến âm thầm lặng trong mưa. Bài thơ như vậy là có một cái tứ xuyên suốt: nỗi buồn của một hồn thơ trước cảnh quê mưa giầm, một nỗi buồn lặng như bến cô đơn đang cảm nghe mưa ngoài trời hoá thành mưa trong lòng của một hồn thơ lãng mạn.

  • Kết bài:

Bến đò ngày mưa có cấu trúc chặt chẽ, chi tiết bình thường đã được nhà thơ thổi vào đấy sức sống mới nên có sức hấp dẫn riêng. Bài thơ tái hiện không khí vắng vẻ, ngưng đọng cũ kĩ ở chốn quê một thời đã qua, nên có thể xem bài thơ như là một chứng tích văn hoá của quê hương Việt một thời đã qua, nhưng lại là một thời để nhớ, để yêu. Đó là điều đáng trân trọng của hồn thơ Anh Thơ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang