Bức tranh chiều xuân qua ngòi bút của thi sĩ Anh Thơ trong bài thơ Chiều xuân

buc-tranh-chieu-xuan-qua-ngoi-but-cua-thi-si-anh-tho-trong-bai-tho-chieu-xuan

Vẻ đẹp bức tranh chiều xuân qua ngòi bút của thi sĩ Anh Thơ trong bài thơ Chiều xuân

I. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Anh Thơ: Là nữ thi sĩ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Thơ bà thiên về tả cảnh làng quê Bắc Bộ với bút pháp tả thực giàu tạo hình, ngôn ngữ tinh tế, giàu sức gợi. Bài thơ Chiều xuân in trong tập Bức tranh quê, một bức họa mùa xuân xứ Bắc bình dị mà giàu chất thơ.

– Nêu cảm nhận khái quát: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tĩnh lặng của cảnh chiều xuân, không khí và nhịp sống thôn dã trong trẻo, yên bình, gần gũi; qua đó thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.

II. Thân bài:

1. Bức tranh bến vắng chiều xuân (khổ 1)

a. Cảnh vật hiện lên với vẻ êm đềm, vắng lặng

– Hình ảnh đặc trưng của làng quê Bắc Bộ:

  • Mưa bụi
  • Bến đò
  • Con đò
  • Quán tranh
  • Hoa xoan tím

→ Những chi tiết quen thuộc, giản dị, đậm chất thôn quê.

b. Không khí tĩnh lặng, có phần tiêu điều

– Từ láy gợi cảm: “êm êm”, “biếng lười”, “im lìm”, “tơi bời” → Gợi sự ngưng đọng của thời gian, nhịp điệu chậm rãi.

– Biện pháp nhân hóa:

  • “Đò biếng lười”
  • “Quán tranh đứng im lìm”

→ Cảnh vật như mang tâm trạng, phảng phất nét buồn man mác.

c. Gam màu và ánh sáng

  • Mưa bụi giăng nhẹ
  • Hoa xoan tím rụng

→ Bức tranh thiên về gam trầm, thiếu ánh sáng rực rỡ, tạo cảm giác cô tịch.

* Nhận xét: Cảnh chiều xuân hiện lên êm đềm nhưng có chút buồn, gợi cảm giác hoài niệm, tĩnh lặng sâu xa.

2. Bức tranh đường đê chiều xuân (khổ 2)

a. Sự chuyển đổi không gian và sắc màu

– Từ bến vắng sang đường đê.

– Từ gam trầm sang sắc “biếc” của cỏ non

→ Không gian mở rộng, tươi sáng hơn.

b. Sự sống bắt đầu chuyển động

– Động từ giàu sức gợi:

  • “sà xuống mổ vu vơ”
  • “rập rờn”
  • “thong thả”

→ Những chuyển động nhẹ nhàng, không ồn ào.

c. Bút pháp lấy động tả tĩnh

– Chim sáo, bướm, trâu bò đều vận động chậm rãi → Cái động làm nổi bật cái tĩnh của buổi chiều xuân.

* Nhận xét: Bức tranh xuân trở nên sinh động nhưng vẫn giữ được vẻ thanh bình, nên thơ; làm dịu đi nỗi cô đơn của bến vắng ban đầu.

3. Cuộc sống con người trong chiều xuân (khổ 3)

a. Không gian đồng ruộng tràn sức sống

“Xanh rờn” → sắc xuân tươi mới.

– Cánh cò “chốc chốc vụt bay ra” → chuyển động bất ngờ nhưng không phá vỡ sự yên tĩnh.

b. Hình ảnh con người lao động

– “Cô nàng yếm thắm”

– “Cúi cuốc cào cỏ”

→ Hình ảnh bình dị, khỏe khoắn, ấm áp sắc màu cuộc sống.

c. Nhịp sống khoan thai, yên bình

– Các động từ: “cúi”, “cuốc”, “cào” → Gợi nhịp điệu đều đặn của lao động.

– “Ruộng sắp ra hoa” → Gợi niềm tin, hy vọng vào mùa màng, tương lai.

* Nhận xét: Thiên nhiên và con người hòa quyện hài hòa; cảnh và tình thấm vào nhau. Chiều xuân không chỉ đẹp ở cảnh sắc mà còn đẹp ở nhịp sống lao động bình dị.

4. Đặc sắc nghệ thuật

  • Bút pháp tả thực giàu tạo hình
  • Hình ảnh dân dã, chọn lọc tiêu biểu cho làng quê Bắc Bộ
  • Hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm
  • Nhân hóa tinh tế
  • Lấy động tả tĩnh
  • Nhịp thơ chậm rãi, giọng điệu nhẹ nhàng, man mác buồn

→ Tạo nên hiệu quả thẩm mĩ: bức tranh xuân vừa chân thực vừa giàu chất trữ tình.

III. Kết bài:

– Khẳng định giá trị nội dung: Bài thơ là bức tranh chiều xuân thanh bình, mộc mạc của làng quê Bắc Bộ.

– Khẳng định giá trị nghệ thuật: Thành công ở bút pháp tả cảnh giàu tạo hình, ngôn ngữ tinh tế, nhịp điệu khoan thai.

– Nêu cảm nhận riêng: Bài thơ giúp người đọc biết trân trọng vẻ đẹp bình dị của quê hương, thêm yêu thiên nhiên và những giá trị truyền thống.

Bài văn tham khảo:

Bài văn 1:

Vẻ đẹp bức tranh chiều xuân qua ngòi bút của thi sĩ Anh Thơ trong bài thơ Chiều xuân

Trong dòng chảy của phong trào Thơ mới, Anh Thơ xuất hiện như một giọng thơ riêng: không say đắm những rung động tình yêu mãnh liệt, không đắm mình trong cái tôi cô đơn bi thiết, mà lặng lẽ trở về với làng quê Bắc Bộ thân thuộc. Bài thơ Chiều xuân (in trong tập Bức tranh quê, 1941) là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua bút pháp tả thực giàu tạo hình và giọng điệu trầm lắng, thi sĩ đã vẽ nên một bức tranh chiều xuân bình dị mà thấm đẫm hồn quê, qua đó gửi gắm tình yêu quê hương sâu sắc.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh bến vắng trong mưa bụi. Những hình ảnh “mưa đổ bụi êm êm”, “đò biếng lười”, “quán tranh đứng im lìm”, “hoa xoan tím rụng tơi bời” gợi lên một không gian êm đềm nhưng phảng phất nỗi buồn. Các từ láy “êm êm”, “im lìm”, “tơi bời” khiến cảnh vật như chìm trong sự ngưng đọng của thời gian. Con đò không còn là phương tiện chuyên chở mà trở thành một sinh thể có tâm trạng; quán tranh không chỉ là vật vô tri mà như đang trầm mặc suy tư. Bằng thủ pháp nhân hóa tinh tế, nhà thơ khiến thiên nhiên mang hồn người, khiến buổi chiều xuân không rực rỡ tươi vui mà dịu dàng, tĩnh lặng, có chút cô tịch. Gam màu tím nhạt của hoa xoan trong màn mưa bụi càng làm tăng vẻ mơ hồ, man mác. Đó là vẻ đẹp của một miền quê lặng lẽ, nơi mọi chuyển động đều chậm lại để con người có thể lắng nghe tiếng thở khẽ của đất trời.

Từ bến vắng, bức tranh mở rộng ra đường đê với sắc “cỏ non tràn biếc cỏ”. Không gian bỗng trở nên tươi sáng hơn, gam màu xanh dịu mát như lan tỏa sức sống của mùa xuân. Đàn sáo “sà xuống mổ vu vơ”, cánh bướm “rập rờn”, trâu bò “thong thả cúi ăn mưa” – những chuyển động ấy tuy có động nhưng vẫn rất nhẹ, rất chậm. Bút pháp “lấy động tả tĩnh” được vận dụng nhuần nhuyễn: chính những chuyển động khẽ khàng ấy lại làm nổi bật hơn sự yên ả của buổi chiều. Cảnh vật không ồn ào, không náo nhiệt, mà bình thản như nhịp thở đều đặn của làng quê. Nếu khổ thơ đầu còn đượm buồn thì đến đây, bức tranh đã có ánh sáng và sắc màu của sự sống, làm vơi đi cảm giác cô quạnh ban đầu.

Đặc biệt, bức tranh chiều xuân trở nên ấm áp hơn khi có sự xuất hiện của con người. Trên cánh đồng “xanh rờn và ướt lặng”, hình ảnh “cô nàng yếm thắm / Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa” gợi lên vẻ đẹp khỏe khoắn, bình dị của người thôn nữ. Động tác “cúi”, “cuốc”, “cào” diễn tả nhịp lao động đều đặn, khoan thai. Sự “giật mình” của cô gái khi đàn cò vụt bay không phá vỡ không gian yên tĩnh mà chỉ điểm thêm một nét sinh động. Câu thơ “ruộng sắp ra hoa” không chỉ tả thực mà còn gợi niềm hy vọng: mùa màng sẽ bội thu, cuộc sống sẽ sinh sôi. Trong khung cảnh ấy, con người và thiên nhiên hòa quyện, nâng đỡ nhau trong một nhịp sống chậm rãi, thanh bình.

Thành công của bài thơ không chỉ ở nội dung mà còn ở nghệ thuật. Ngôn ngữ giàu từ láy, hình ảnh chọn lọc tiêu biểu cho đồng quê Bắc Bộ, nhịp thơ chậm rãi, giọng điệu trầm lắng – tất cả tạo nên hiệu quả thẩm mĩ sâu sắc. Bức tranh chiều xuân hiện lên chân thực mà giàu chất trữ tình, giản dị mà tinh tế.

Chiều xuân vì thế không chỉ là một bức họa thiên nhiên, mà còn là lời nhắc nhở người đọc hôm nay biết lắng lại giữa nhịp sống hiện đại, để nhận ra vẻ đẹp bình yên của quê hương. Trong sự tĩnh lặng của buổi chiều xuân ấy, ta bắt gặp một tâm hồn yêu quê hương tha thiết và một tiếng thơ nhẹ nhàng mà bền bỉ theo năm tháng.

Bài văn 2:

Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống trong bài thơ Chiều xuân của Anh Thơ.

Anh Thơ là một nữ thi sĩ tiêu biểu của phong trào thơ Việt Nam hiện đại. Với phong cách thơ bình dị mà sâu sắc qua từng câu chữ, qua bao hình ảnh của cảnh sắc nông thôn quê hương nhẹ nhàng được gợi tả một cách khéo léo, nữ sĩ Anh Thơ từng bước chinh phục người đọc đương thời. Càng ấn tượng hơn khi bà đến với thơ ca như con đường giải thoát khỏi cuộc đời tù túng, buồn tẻ và tự khẳng định giá trị người phụ nữ trong xã hội đương thời. Tập thơ “Bức tranh quê” đầu tiên ra đời chan chứa những gì mộc mạc và dung dị, đặc biệt qua bài thơ “Chiều xuân”, một bức tranh về cảnh mây trời tắt nắng trong sắc xuân tươi đẹp.

Những cơn mưa xuân đặc trưng nơi miền Bắc là những cơn mưa bụi li ti rơi nhẹ tắm mát cho chồi non ngọn cỏ thêm xanh tươi, mưa xuất hiện trong dòng thơ đầu tiên rất đỗi lặng lẽ trên bến đò vắng, cảnh vật thoáng buồn và chút tĩnh lặng, xe thêm cái lạnh của tâm hồn bằng sự trống trải:

“Mưa bụi êm êm trên bến vắng,
 Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi”

Từng giọt mưa mãi rơi hững hờ và “êm êm” trước mắt nhà thơ. Từ láy gợi tả hình ảnh những giọt mưa rơi nhẹ điểm xuyết cho khung cảnh, không ồn ào vồn vã hay nặng hạt mà có chút gì như chầm chậm theo từng khoảnh khắc thời gian. Bến sông thì thưa khách đi đò chiều, vắng mênh mông, không gian rộng hơn và sự trống trải lan tỏa vào tâm hồn. Con đò nhỏ sau một ngày làm việc chở khách ngược xuôi trên dòng sông quê hương bây giờ nằm đấy và lắng vào phút giây nghỉ ngơi, mạn đò lung lay theo sóng nhỏ, vô tình trôi bềnh bồng theo nước sông.

Như thế đấy ta có cảm giác nhịp mưa rơi nhịp sóng vỗ nhẹ nhịp đò trôi hòa theo nhau tạo nên bức tranh giản dị nhưng sâu lắng bao cảm xúc. Ánh mắt nhà thơ chuyển hướng và cũng bắt gặp sự yên tĩnh đang bao trùm:

“Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”

Quán tranh được nhà thơ nhân hóa qua động từ “đứng”. Không chỉ là “đứng” mà là “đứng im lìm” và “trong vắng lặng”, từ láy nối tiếp động từ như nhân thêm sự trống vắng không chỉ riêng bến sông gây hiệu ứng mạnh trong khổ thơ. Nơi quán tranh này là trung tâm của hoang vắng và xơ xác khi ngày sắp kết thúc. Hoa tím rụng “tơi bời” vào những phút cuối của ngày dài. Dường như không chỉ con người mệt mỏi mà vạn vật cũng rã rời, trút bỏ tàn dư cuối cùng. Thời gian thì cứ mỗi phút trôi qua mang theo sự rộn ràng hối hả của ban ngày và thay thế là chiếc áo khá buồn tẻ vì cô đơn và vắng lặng khắp nơi. Khổ thơ thứ hai hiện lên bằng những hình ảnh được thu gọn vào tầm mắt nhà thơ:
“Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,

Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ”

Đường đê rộng đôi bờ chạy dài và mơn mởn bao ngọn cỏ xanh tươi, màu sắc của câu thơ chính là màu “biếc” của cỏ. Ngòi bút nhà thơ tạo những nét chấm phá màu sắc khá đẹp, cảnh thoáng buồn của khổ một bây giờ như được dung hòa lại bằng chính màu sắc của sự sống dù chỉ là ngọn cỏ. Đến đây không gian bớt đi màu tàn phai nhường chỗ cho màu biếc rạng rỡ, cái tĩnh lặng cũng tan dần theo tiếng vỗ cánh của đàn chim sáo đen đang sà xuống. Chúng vô tư như những đứa trẻ nghịch trên đồng qua cách miêu tả tinh tế “mổ vu vơ”. Không phải “mổ vu vơ” mà thực ra chúng đang mổ những con mồi bé nhỏ nhưng trong mắt nhà thơ hình ảnh đó khá là dễ thương và mang cảm giác thanh bình hạnh phúc vì cuộc sống tự do và khoáng đạt.

Không dừng lại bấy nhiêu đó, hình ảnh tiếp theo mang lại cho độc giả cái nhìn hơi ngỡ ngàng vì những điều bình dị mà không bao nhiêu người cảm nhận được:

“Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa”

Gió lướt qua thổi mát khung cảnh và không ít lần làm nghiêng nghiêng cánh bướm, khả năng dùng từ láy khá là phong phú “rập rờn”, nhà thơ miêu tả cái cách chú bướm nhỏ muốn bay nhưng không sao vượt qua sức ép của cơn gió nên đôi cánh kia cứ mãi chao đi chao lại theo làn gió thổi. Động từ “trôi” càng tô đậm thêm hình ảnh cánh bướm nhỏ bị cơn gió kia hững hờ mang đi. Từng đợt gió đến rồi đi và tiếp tục thổi cho cánh bướm mãi “rập rờn” chao nghiêng.

Thấp hơn cánh bướm là những chú trâu bò đang từ tốn nhai cỏ non một cách “thong thả”, chậm rãi như tận hưởng hạnh phúc. Mưa vẫn còn rơi và vương hạt mưa lên ngọn cỏ cho ta cảm giác trâu bò đang thưởng thức chính “mưa”. Nhịp thơ không nhanh mà theo nhịp hoạt động của muôn vật. Đây là khoảng thời gian mọi thứ trở nên lắng đọng và chầm chậm trôi xua đi mỏi mệt dần tan biến. Đến khổ thơ cuối cùng của bài thơ, không gian mở rộng khắp phía và làm hoàn chỉnh bức tranh “chiều xuân” thơ mộng của thi sĩ Anh thơ:

“Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,
Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.”

Quê hương tươi đẹp bởi những cánh đồng xanh rì ngọn lúa rung rinh xào xạc theo đợt gió thổi về, còn thấm đẫm những giọt mưa bụi lất phất. Lũ cò con lông trắng là hình ảnh gắn liền với ruộng đồng, với bầu trời thôn quê, với cơn gió mát chiều về, nghịch ngợm bay ra vội vàng hối hả làm xao động cả góc trời, chúng tung cánh tự do phiêu lãng và vô tình làm giật mình một cô gái nông thôn đang cần mẫn làm việc bởi âm thanh bay lên của những đôi cánh.

Cô gái trong câu thơ vẫn chăm chỉ làm nốt những công việc cuối cùng của ngày sắp tàn và cũng là những gì hiện lên trước mắt nhà thơ sau chót. Khung cảnh thanh bình tràn đầy sức sống, hoạt động của muôn vật đã xây dựng nên nhịp sống vui tươi nơi đây dù thời gian trôi gần hết ngày.

Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, khéo léo dùng ngòi bút của mình vẽ nên những hình ảnh bình dị nhưng thật ấm áp và chan chứa vẻ đẹp cuộc sống, bên cạnh đó theo dòng thơ mạch cảm xúc của người đọc được dâng lên và nhờ đó ta cảm nhận sâu nhất tình cảm cảm xúc của nhà thơ, đây chính là thành công khẳng định giá trị của bài thơ.

Đôi lúc nhịp thơ chầm chậm nhẹ nhàng sâu lắng đôi lúc lại mang đến cảm giác rộn ràng và vui vẻ, cả bài thơ như bài nhạc muôn giai điệu phong phú làm rung động trái tim suy nghĩ của người đọc bài thơ. Tấm lòng yêu thơ ca và yêu những gì thân thuộc giản dị của quê hương cùng tài năng là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên thành công của bài thơ “Chiều xuân”.

Bài văn 3:

Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống trong bài thơ Chiều xuân của Anh Thơ.

  • Mở bài:

Nữ sĩ Anh Thơ là một trong những nữ sĩ nổi bậc nhất của nền thơ ca Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ XX. Bút danh AnhThơ xuất hiện trong phong trào Thơ mới với những bài thơ viết về đề tài nông thôn tràn ngập những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, gợi nhớ những ki niệm êm đềm về làng mạc, quê hương trong tâm thức của mỗi con người. Thơ của bà mỗi bài là một bức tranh thiên nhiên tươi mát, hài hoà, gợi nên không khí và nhịp sống êm đềm ở miền quê Bắc Bộ. Chiều xuân in trong tập Bức tranh quê (xuất bản năm 1941) là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Anh Thơ. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi mát, thơ mộng và khung cảnh làng quê tĩnh lặng, thanh bình khiến cho con người thêm gắn bó với quê hương.

Những cơn mưa xuân đặc trưng nơi miền Bắc là những cơn mưa bụi li ti rơi nhẹ tắm mát cho chồi non ngọn cỏ thêm xanh tươi, mưa xuất hiện trong dòng thơ đầu tiên rất đỗi lặng lẽ trên bến đò vắng, cảnh vật thoáng buồn và chút tĩnh lặng, se thêm cái lạnh của tâm hồn bằng sự trống trải. Nhà thơ đã quan sát và lựa chọn những hình ảnh, chi tiết đặc trưng của cảnh vật để phác họa nên ba bức tranh chiều xuân êm ả, thanh bình.

Bức tranh thứ nhất tả cảnh một chiều mưa bụi với hình ảnh bến sông vắng khách, con đò nằm gần như bất động, quán tranh xơ xác bên chòm xoan rụng đầy hoa tím:

Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi …
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.

Từng giọt mưa mãi rơi hững hờ và “êm êm” trước mắt nhà thơ. Nữ sĩ quan sát, thưởng thức bằng cái nhìn tâm tưởng nên đã cảm nhận được cái hồn của cảnh vật thân quen. Trong chiều mưa lạnh, quang cảnh bến sông ven làng càng tiêu điều, vắng vẻ. Một bức tranh dường như thiếu sắc màu và ánh sáng.

Trong sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối của không gian vẫn có sự hoạt động của cảnh vật, dù là nhẹ đến mức như có như không: Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng. Con đò thường ngày tất bật chở khách sang sông, giờ đây dường như mệt mỏi, biếng lười nằm mặc nước sông trôi. Còn quán tranh cũng như thu mình lại, đứng im lìm trong vắng lặng bởi không còn khách vào ra với tiếng cười, tiếng nói rộn ràng. Chòm xoan hoa tím rụng tơi bời trước ngọn gió xuân còn vương hơi lạnh của buổi tàn đông. Tất cả đều như ẩn chứa một nỗi buồn sâu kín khó nói thành lời.

Bức tranh thứ hai vẽ nên đường đê chiều xuân. Ở đây, có sự chuyển đổi từ tĩnh sang động, từ gam màu buồn sang gam màu xanh “biếc” của cỏ, của sự sống. Cảnh vật vô cùng thân thương và bình yên, độc đáo, nên thơ, làm vơi đi nỗi cô đơn của bến vắng.

Thời gian thì cứ mỗi phút trôi qua mang theo sự rộn ràng hối hả của ban ngày và thay thế là chiếc áo khá buồn tẻ vì cô đơn và vắng lặng khắp nơi. Khổ thơ thứ hai hiện lên bằng những hình ảnh được thu gọn vào tầm mắt nhà thơ:

Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,
Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Hình ảnh đường đê trong buổi chiều xuân qua cảm nhận của nữ sĩ thật thân thương và bình yên. So với cảnh bến vắng đìu hiu ở trên thì cảnh đường đê vui hơn và nhiều sức sống hơn. Màu xanh biếc của cỏ non mơn mởn trải dài hút tầm mắt khiến nhà thơ có một liên tưởng bất ngờ và thú vị: Đàn trâu bò đang ung dung gặm cỏ mà như đang thong thả cúi ăn mưa. Đó là một ảo giác nghệ thuật nảy sinh từ thực tế, qua lăng kính lãng mạn của nhà thơ. Trên cái phông nền xanh mát mắt và mát cả hồn người ấy điểm xuyết vài nét chấm phá của Đàn sáo đen và Mấy cánh bướm rập rờn. Đoạn thơ có nhiều nét tươi mát và thơ mộng, chứng tỏ tác giả có tài quan sát và có sự rung động tinh tế nên nhận thấy cảnh vừa thực lại vừa ảo, vừa quen, vừa lạ.

Đến khổ thơ cuối cùng của bài thơ, không gian mở rộng khắp phía và làm hoàn chỉnh bức tranh “chiều xuân” thơ mộng của thi sĩ Anh thơ. Bức tránh quê dù đẹp đẽ, thanh bình đến đâu chăng nữa cũng sẽ trống trải nếu thiếu hình ảnh con người. Con người xuất hiện làm cho bức tranh thiên nhiên trở thành bức tranh sinh hoạt:

Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,
Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra.
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm,
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.

Khung cảnh thực mà giống như trong một giấc mơ. Giữa cánh đồng lúa xanh rờn nổi bật lên hình ảnh một cô nàng yếm thắm tràn đầy sức sống của tuổi xuân. Hình ảnh đáng yêu ấy thể hiện chất trữ tình lãng mạn đậm đà trong tâm hồn nữ thi sĩ nổi tiếng của phong trào Thơ mới. Tiếng động bất ngờ của Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra khiến cô gái giật mình ngơ ngác là một điểm nhấn nghệ thuật. Hình ảnh cô thôn nữ với cái dáng cắm cúi, chuyên cần làm việc giữa khung cảnh chiều xuân êm đềm như thế quả đã làm xúc động lòng người, vẻ đẹp của cô thôn nữ bên cạnh vẻ đẹp của thiên nhiên khiến cho cảnh sắc bình thường, thân quen bỗng trở nên đẹp đẽ lạ thường. Thủ pháp lấy động tả tĩnh đã làm nổi bật vẻ thanh bình, vắng lặng của chiều xuân chốn đồng quê.

Ba bức tranh vẽ ba khung cảnh khác nhau nhưng trong cùng một thời điểm. Nữ sĩ Anh Thơ tìm cảm hứng từ những khung cảnh binh dị, quen thuộc xung quanh và tỏ ra có thế mạnh ở lối miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, thâu tóm được cái hồn của cảnh vật thiên nhiên. Nhà thơ đã khéo léo dùng ngòi bút của mình vẽ nên những hình ảnh bình dị nhưng thật ấm áp và chan chứa vẻ đẹp cuộc sống, bên cạnh đó theo dòng thơ mạch cảm xúc của người đọc được dâng lên và nhờ đó ta cảm nhận sâu nhất tình cảm cảm xúc của nhà thơ, đây chính là thành công khẳng định giá trị của bài thơ.

Mặc khác, Anh Thơ còn đóng góp cho Thơ mới ở cách dùng từ độc đáo, mới lạ chưa từng có trong thi ca. Đó là những cụm từ mưa đổ bụi, đò biếng lười; rụng tơi bời, mổ vu vơ; Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa… Những nét độc đáo, mới lạ ấy được thể hiện qua sự duyên dáng, mềm mại của các câu thơ càng làm nổi bật phong cách lãng mạn của tác giả. Bức tranh tổng thể về buổi chiều xuân yên ả, thanh bình vừa hoà hợp với tâm hồn nữ sĩ vừa gợi nên tình cảm làng mạc, quê hương sâu sắc trong lòng mỗi con người.

“Chiều xuân” của Anh Thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên mà còn là một bản nhạc dịu dàng thấm đượm yêu thương và niềm tự hào về quê hương xứ sở. Qua những nét vẽ tinh tế và giọng thơ trầm lắng, thi sĩ đã khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu đối với những gì bình dị, thân quen của làng quê Việt Nam. Bài thơ vì thế không chỉ dừng lại ở giá trị miêu tả cảnh sắc, mà còn âm thầm bồi đắp, nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi chúng ta những tình cảm trong trẻo, bền lâu dành cho quê hương đất nước.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang