Phân tích bài thơ Thu vịnh (Vịnh mùa thu) của Nguyễn Khuyến
* Dàn bài chi tiết:
I. Mở bài:
– Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến: Nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Nổi tiếng với chùm thơ thu: Thu điếu – Thu ẩm – Thu vịnh.
– Giới thiệu bài thơ Thu vịnh: Là một trong ba bài thơ thu tiêu biểu. Bài thơ vừa vẽ bức tranh mùa thu làng quê Việt Nam, vừa thể hiện tâm hồn, nhân cách cao đẹp và nỗi niềm sâu kín của nhà thơ.
II. Thân bài
1. Khái quát chung
– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết khi Nguyễn Khuyến đã cáo quan, sống ẩn dật ở quê nhà.
– Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật.
– Giọng điệu chung: Nhẹ nhàng, trầm lắng, giàu chất suy tư.
2. Phân tích, cảm nhận nội dung, chủ đề bài thơ
– Chủ đề: Bài thơ Thu vịnh ca ngợi vẻ đẹp thanh bình, tĩnh lặng của thiên nhiên mùa thu nơi làng quê Việt Nam, đồng thời bộc lộ nỗi lòng u uẩn, nỗi buồn trước thời cuộc rối ren và niềm tự trọng cao cả của một nhà nho yêu nước. Qua bức tranh thu êm đềm mà man mác buồn, Nguyễn Khuyến kín đáo thể hiện tình yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước, cũng như tâm trạng buồn tủi, bất lực trước hiện thực xã hội đầy biến động, khi bản thân không thể đem tài năng và tâm huyết để giúp đời, giúp nước.
a. Vẻ đẹp bức tranh mùa thu (6 câu thơ đầu)
– Cảnh thu cao rộng, trong trẻo (2 câu đề)
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”.
+ Hình ảnh:
- “trời thu xanh ngắt” → màu sắc trong trẻo, cao vời vợi.
- “mấy tầng cao” → không gian được mở rộng theo chiều cao.
+ Từ láy “lơ phơ”, “hắt hiu”: Gợi chuyển động rất nhẹ, tạo cảm giác đất trời yên ắng, se lạnh.
→ Cảnh thu hiện lên thanh sơ, nhẹ nhàng, đậm chất làng quê Bắc Bộ.
– Cảnh thu tĩnh lặng, mơ hồ (2 câu thực):
“Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào”
+ Hình ảnh: “nước biếc” → màu xanh trong, êm đềm.
+ So sánh “như tầng khói phủ” → làm cảnh vật trở nên mờ ảo.
+ Hình ảnh: “song thưa”, “bóng trăng” → gợi không gian yên tĩnh, tĩnh tại.
→ Cảnh thu mang vẻ đẹp cổ điển, trầm lắng, nhuốm màu suy tư.
– Cảnh thu gợi buồn, man mác (2 câu luận)
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”
+ Hình ảnh quen thuộc: “hoa năm ngoái” → gợi sự lặp lại của thời gian, nỗi hoài niệm.
+ Câu hỏi tu từ: “ngỗng nước nào?” → gợi không gian xa xôi, mênh mang, làm nổi bật sự tĩnh lặng của cảnh thu.
→ Cảnh thu thấm đượm nỗi buồn nhẹ, bâng khuâng, cô tịch.
– Tâm trạng và nhân cách của nhà thơ (2 câu kết)
“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”
+ Từ ngữ “nhân hứng” → cho thấy sự rung cảm trước thiên nhiên.
+ Từ ngữ “thẹn với ông Đào” → tự so sánh mình với Đào Uyên Minh – bậc hiền nhân ẩn dật.
+ Hình ảnh thể hiện:
- Nhân cách thanh cao.
- Nỗi day dứt, tự vấn về chí hướng và lối sống.
→ Qua đó, bộc lộ tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu sự thanh sạch, chán ghét danh lợi.
2. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Thu vịnh
– Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được sử dụng nhuần nhuyễn: Bố cục chặt chẽ (đề – thực – luận – kết); niêm, luật, vần hài hòa, tạo giọng điệu trang nhã, cổ điển.
– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Thiên nhiên mùa thu không chỉ được miêu tả bằng hình ảnh mà còn thấm đượm tâm trạng của nhà thơ. Cảnh thu tĩnh lặng, mơ hồ, man mác buồn chính là sự phản chiếu nỗi lòng cô đơn, trầm tư của Nguyễn Khuyến.
– Hệ thống hình ảnh chọn lọc, giàu tính gợi: Các hình ảnh như trời thu xanh ngắt, cần trúc lơ phơ, nước biếc, bóng trăng, hoa năm ngoái, tiếng ngỗng trời đều mang vẻ đẹp giản dị, quen thuộc nhưng giàu sức gợi cảm. Cảnh vật mang đậm dấu ấn làng quê Việt Nam, khác với vẻ thu tráng lệ trong thơ Đường Trung Quốc.
– Ngôn ngữ thơ tinh tế, trong sáng: Sử dụng nhiều từ láy (xanh ngắt, lơ phơ, hắt hiu) làm tăng tính nhạc và khả năng gợi hình. Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, ít lời nhưng nhiều ý.
– Sử dụng câu hỏi tu từ khéo léo: Câu “Một tiếng trên không ngỗng nước nào?” không nhằm hỏi mà để gợi không gian xa vắng, bộc lộ tâm trạng bâng khuâng, cô tịch của nhà thơ.
→ Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung tư tưởng sâu sắc và những đặc sắc nghệ thuật tinh tế, Thu vịnh không chỉ là một bức tranh mùa thu trong trẻo, tĩnh lặng của làng quê Việt Nam mà còn là một bài thơ giàu chiều sâu cảm xúc. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh chọn lọc và giọng điệu trầm lắng đã giúp cảnh thu trở thành nơi gửi gắm tâm sự, qua đó làm nổi bật nỗi niềm u uẩn, nhân cách thanh cao và cốt cách đáng trân trọng của Nguyễn Khuyến. Bài thơ vì thế vừa đẹp ở hình thức nghệ thuật, vừa sâu sắc ở giá trị tư tưởng và cảm xúc.
III. Kết bài
– Khẳng định giá trị của bài thơ: Thu vịnh là bài thơ thu tiêu biểu, kết tinh vẻ đẹp của thơ ca trung đại Việt Nam.
– Ý nghĩa: Bài thơ không chỉ đẹp ở bức tranh thiên nhiên mà còn sâu sắc ở tình người, nhân cách và tâm hồn Nguyễn Khuyến.
– Liên hệ: Qua bài thơ, người đọc thêm yêu thiên nhiên, trân trọng lối sống thanh cao, trong sạch.
* Bài văn tham khảo:
Bài văn 1:
Phân tích bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Ông để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc bởi hồn thơ thanh cao, giản dị mà thấm đượm nỗi niềm thời thế. Nhắc đến Nguyễn Khuyến, không thể không nhắc tới chùm thơ thu nổi tiếng gồm Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh. Trong đó, Thu vịnh là một bài thơ tiêu biểu, vừa vẽ nên bức tranh mùa thu làng quê Việt Nam yên bình, vừa thể hiện tâm hồn, nhân cách cao đẹp và những nỗi niềm sâu kín của nhà thơ.
Bài thơ được sáng tác khi Nguyễn Khuyến đã cáo quan, lui về sống ẩn dật tại quê nhà. Đây là giai đoạn ông rời xa chốn quan trường đầy biến động để tìm về cuộc sống thanh sạch, gần gũi với thiên nhiên. Thu vịnh được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục chặt chẽ, giọng điệu nhẹ nhàng, trầm lắng, giàu chất suy tư, rất phù hợp với tâm trạng của tác giả lúc bấy giờ.
Về chủ đề, Thu vịnh ca ngợi vẻ đẹp thanh bình, tĩnh lặng của thiên nhiên mùa thu nơi làng quê Việt Nam, đồng thời bộc lộ nỗi lòng u uẩn, nỗi buồn trước thời cuộc rối ren và niềm tự trọng cao cả của một nhà nho yêu nước. Qua bức tranh thu êm đềm mà man mác buồn, Nguyễn Khuyến kín đáo thể hiện tình yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước, cũng như tâm trạng buồn tủi, bất lực trước hiện thực xã hội đầy biến động, khi bản thân không thể đem tài năng và tâm huyết để giúp đời, giúp nước.
Sáu câu thơ đầu đã vẽ nên một bức tranh mùa thu đẹp và giàu sức gợi. Trước hết là cảnh thu cao rộng, trong trẻo qua hai câu đề:
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”
Hình ảnh “trời thu xanh ngắt” mở ra một không gian cao vời vợi, trong trẻo, tinh khôi. Cụm từ “mấy tầng cao” không chỉ gợi chiều cao mà còn tạo cảm giác không gian như được mở rộng vô tận. Bên cạnh đó, hình ảnh “cần trúc lơ phơ” trong làn “gió hắt hiu” gợi chuyển động rất nhẹ, mong manh, khiến đất trời như lắng lại. Tất cả làm hiện lên một cảnh thu thanh sơ, nhẹ nhàng, đậm chất làng quê Bắc Bộ.
Tiếp đến là cảnh thu tĩnh lặng, mơ hồ trong hai câu thực:
“Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào”
Màu “nước biếc” xanh trong, êm đềm được so sánh với “tầng khói phủ” khiến cảnh vật trở nên mờ ảo, bảng lảng như thực như mơ. Hình ảnh “song thưa”, “bóng trăng” gợi nên một không gian yên tĩnh, tĩnh tại, nơi con người dường như hòa tan vào thiên nhiên. Cảnh thu ở đây mang vẻ đẹp cổ điển, trầm lắng và thấm đẫm suy tư.
Hai câu luận tiếp tục làm sâu sắc hơn bức tranh thu bằng những cảm xúc man mác buồn:
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?”
“Hoa năm ngoái” là hình ảnh quen thuộc, gợi sự lặp lại của thời gian và khơi dậy nỗi hoài niệm. Bên cạnh đó, câu hỏi tu từ “ngỗng nước nào?” vang lên giữa không trung mênh mang, xa xôi, càng làm nổi bật sự tĩnh lặng của không gian thu. Âm thanh ấy không phá vỡ cảnh yên tĩnh mà trái lại, còn khiến nỗi buồn trở nên sâu lắng hơn. Cảnh thu vì thế thấm đượm nỗi buồn nhẹ, bâng khuâng và cô tịch.
Hai câu kết bộc lộ rõ nhất tâm trạng và nhân cách của nhà thơ:
“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”
Từ “nhân hứng” cho thấy sự rung cảm tinh tế của Nguyễn Khuyến trước vẻ đẹp thiên nhiên. Tuy nhiên, cảm hứng ấy nhanh chóng nhường chỗ cho nỗi “thẹn với ông Đào” – Đào Uyên Minh, bậc hiền nhân nổi tiếng sống ẩn dật thanh cao. Sự “thẹn” ấy không phải là tự ti, mà là sự tự vấn sâu sắc về chí hướng và nhân cách. Qua đó, ta thấy rõ ở Nguyễn Khuyến một nhân cách thanh cao, một tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu sự thanh sạch và chán ghét danh lợi.
Bên cạnh nội dung sâu sắc, Thu vịnh còn đặc biệt thành công về mặt nghệ thuật. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật được sử dụng nhuần nhuyễn với bố cục chặt chẽ, niêm luật và vần điệu hài hòa, tạo nên giọng thơ trang nhã, cổ điển. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được vận dụng tinh tế khi cảnh thu không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là nơi gửi gắm tâm trạng. Hệ thống hình ảnh được chọn lọc kĩ lưỡng, giản dị mà giàu sức gợi, mang đậm dấu ấn làng quê Việt Nam. Ngôn ngữ thơ trong sáng, hàm súc, giàu nhạc điệu, cùng với việc sử dụng khéo léo câu hỏi tu từ đã góp phần bộc lộ nỗi bâng khuâng, cô tịch của nhà thơ. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung tư tưởng sâu sắc và nghệ thuật tinh tế, Thu vịnh không chỉ là một bức tranh mùa thu đẹp mà còn là một bài thơ giàu chiều sâu cảm xúc, thể hiện rõ tài năng và nhân cách của Nguyễn Khuyến.
Tóm lại, Thu vịnh là một bài thơ thu tiêu biểu, kết tinh vẻ đẹp của thơ ca trung đại Việt Nam. Bài thơ không chỉ đẹp ở bức tranh thiên nhiên thanh bình, tĩnh lặng mà còn sâu sắc ở tình người, ở nhân cách và tâm hồn cao đẹp của Nguyễn Khuyến. Qua tác phẩm, người đọc thêm yêu thiên nhiên, trân trọng lối sống thanh cao, trong sạch và cảm thông sâu sắc với nỗi lòng của một nhà nho yêu nước trước thời cuộc đầy biến động.
Bài văn 2:
Phân tích bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ nổi bậc nhất của nền văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX. Ông viết rất thành công ở đề tài thơ về làng quê, được coi là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Trong đó nổi tiếng nhất là chùm thơ thu: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Với bài thơ Thu vịnh, qua việc vịnh mùa thu với những nét đẹp tiêu biểu, Nguyễn Khuyến cho thấy một tâm sự u hoài, một tấm lòng xót xa trước cảnh, kín đáo, bày tỏ một tình cảm yêu nước chân thành.
Hai câu thơ đầu giới thiệu tổng quát cảnh mùa thu:
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Hình ảnh “Trời thu xanh ngắt…”: màu xanh quen thuộc của Nguyễn Khuyến khi tả mùa thu, “mấy tầng cao”: vẽ được cái cao vút, thăm thẳm của khung trời mùa thu. Hình ảnh “cần trúc lơ phơ” tạo nét động cho bức tranh thu. “Hắt hiu”: diễn tả được cái se lạnh của gió mùa thu.
→ Cách giới thiệu rất khéo và rất đạt.
Hai câu thực miêu tả cảnh trăng nước của mùa thu:
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Màu sắc (nước biếc) hòa hợp trong tranh của Nguyễn Khuyến. Cách so sánh “trông như tầng khói phủ” làm cho cảnh dịu nhẹ, mờ nhạt. Ta hình dung được mùa thu trong màu biếc lẫn với màu khói. Hình ảnh “Song thưa để mặc ánh trăng vào” quen thuộc mà vẫn nên thơ. Cách nói của Nguyễn Khuyến “để mặc” cho thấy cảnh của ông phóng khoáng, tâm hồn ông rộng mở.
Cảnh đẹp, màu sắc dịu nhẹ. Cảnh cho thấy sự hòa nhập của con người với thiên nhiên. Ta có cảm tưởng Nguyễn Khuyến đang thả mình trong thiên nhiên với làn nước, với ánh trăng.
Hai câu luận khắc họa cảnh hoa và tiếng chim (ngỗng) của mùa thu:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật hình ảnh “mấy chùm” hoa và “một tiếng” ngỗng. Hình ảnh “hoa năm ngoái” có sức gợi tả mạnh; “hoa năm ngoái” có nghĩa là hoa vẫn là hoa y như năm ngoái (gợi lên cho ta hiểu) mà nước hôm nay thì đã trở thành “nước nào”. Hình ảnh “hoa năm ngoái” làm ta nhớ cách dùng chữ của Nguyễn Du: “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Tiếng ngỗng ở đây, về nghệ thuật, là lấy cái động để diễn tả cái tĩnh.
Nói tóm lại, hai câu luận cũng là tả về mùa thu, nhưng qua cảnh, ta thấy được tâm trạng của nhà thơ, thấy được sự thầm kín của một con người không thể dửng dưng trước cảnh mất nước.
Hai câu kết thể hiện cảm hứng và nỗi thẹn của nhà thơ:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
“Nhân hứng” tức là cái hứng thú trước cảnh đẹp của mùa thu. “Toan cất bút” nghĩa là định làm thơ, cảnh thu đẹp và gợi hứng cho nhà thơ. “Nghĩ ra” tức là ý thức, là lý trí, là thức tỉnh. Nguyễn Khuyến rất say mà rất tỉnh. Ông say trước cảnh đẹp của mùa thu, nhưng ông vẫn tỉnh trước lương tâm của mình. Cho nên, ông nói được là thẹn. Nhưng thẹn với ai?
Ông Đào tức là Đào Tiềm, một danh sĩ đồng thời là một nhà thơ nổi từ đời Tấn, đã “dũng thoái” treo ấn từ quan, về sống với ruộng vườn, với hoa cũ được giữ cho được cái khí tiết của mình. Bằng điển tích này, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ “cái tôi” của mình trong cảnh sắc mùa thu một cách khá đậm nét. “Thẹn với “ông Đào” là một cách nói bộc lộ được tấm lòng thanh cao của nhà thơ, thể hiện được cái tự hào khiêm tốn của ông trước lương tâm của mình “Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
Bài Thu vịnh tả tổng quát về mùa thu, chứ không nói một đặc cảnh “uống rượu” hay “câu cá”, nhưng ta vẫn thấy nét thu đặc biệt của Nguyễn Khuyến. Hơn nữa, trong cảnh sắc mùa thu này, ta thấy khá rõ được tâm hồn thanh cao và khí tiết của một người: “Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết”. “Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ” (trích bài Mẹ Mốc của Nguyễn Khuyến).
Bài văn 3:
Phân tích bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến
Thu Vịnh nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến gồm: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. Bài thơ được viết trong thờ gian khi Nguyễn Khuyến về ở ẩn tại quê nhà. Có lẽ Nguyễn Khuyến đã viết theo lối “chùm ba” của Đỗ Phủ – đại thi hào Trung Quốc này nổi tiếng với “Tam biệt”, “Tam lại”…).
Theo nhận xét của Xuân Diệu thì trong ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyên, bài thơ Thu vịnh mang cái hồn cua cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Thu vịnh mang cái thần của cảnh mùa thu xứ Bắc và cả tâm sự u uấn của thi nhân. Với bài thơ Thu vịnh, tác giả Nguyễn Khuyến đã thành công trong việc vẽ lên một bức tranh mùa thu quê hương tuyệt đẹp. Đây không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà đó còn là nỗi lòng của nhà thơ được gửi gắm một cách chân thành trong đó.
Bức tranh vẽ mùa thu được tác giả phác họa với không gian thoáng đãng. Nến trời chấm phá một nét nhẹ, mềm của cảnh trúc:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Mùa thu của xứ Bắc có bầu trời cao xanh trong đã hiện lên trong thơ Nguyễn Khuyến là “trời thu xanh ngắt”. Màu sắc ấy là màu của trời thu mà cũng là cái tình tha thiết của thi nhân đối với mùa thu, đối với quê hương lang cảnh. Không gian mở ra thăm thẳm “mấy tầng cao”, một cần trúc (trúc chứ không phải là tre) vươn lên trên nền trời thu “xanh ngắt”. Nét cong mềm của “cần trúc” vươn lên một cách thanh cao, không ủy mị như rặng liễu đìu hiu buông xuống trong thơ mùa thu của Xuân Diệu. Từ láy “lơ phơ” gợi tả vẻ thưa thớt của những lá trúc lay động bởi gió heo may mùa thu. Từ láy “hát hiu” gợi được sự rung động của cành trúc, hay là sự rung động của tâm hồn thi nhân trước cảnh thu, trời thu đượm buồn?
Bức tranh mùa thu trong Thu vịnh cứ được thêm hòa sắc mới, đường nét, hình ảnh mới:
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Hình ảnh mùa thu được pha thêm màu “nước biếc”, thêm một sắc xanh tha thiết nữa, màu của áo thu trong xanh, với “khói phủ” nhạt nhòa. “Khói” dãy gợi nhứ “khói sóng” trong thơ Thối Hiệu “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai . Cảnh đêm thu thật là huyền diệu. Lại thêm có trăng. Thi nhân mở ra đón trăng “Song thưa để mặc bóng trăng vào”. Trong đêm thu thanh tĩnh, trăng là người bạn tri kỉ của thi nhân. Có ánh trăng thu, bức tranh mùa thu trong thơ thêm sáng. Mọi vật trong đêm thu được pha thêm ánh trăng huyền ảo, mộng mơ.
Cảnh thu thêm huyền hoặc, từ màu hoa cho đến tiếng chim:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Hoa mùa thu không đổi, không có sắc màu vì khói phủ nhạt nhòa hay nhà thơ mất hết ý niệm về thời gian? “Mấy chùm trước giậu” làm sao biết được đó là hoa gì, màu sắc như thế nào. Chỉ biết đó là “hoa năm ngoái”. Tứ thơ của Nguyễn Khuyến còn trừu tượng hơn, ở đây chẳng có hoa đào, hoa cúc gì cả. Hình ảnh “hoa năm ngoái” thể hiện thời gian ngưng đọng, tâm trạng bất biến của thi nhân. Câu thơ thể hiện một nỗi buồn man mác. Âm thanh mùa thu là một tiếng ngỗng trời xa lạ “ngỗng nước nào”. Tiếng ngỗng trời lạnh cả không gian mùa thu đã làm thổn thức nỗi lòng của thi nhân.
Đêm thu huyền diệu dã gợi cảm hứng cho nhà thơ. Thi hứng cũng chợt đến trong nỗi niềm u uẩn của thi nhân:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút.
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Trước cảnh thu huyền diệu, nhà thơ đã bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của mình. Theo quan điểm của Nguyễn Khuyến mà cũng là quan điểm của các nhà thơ chân chính, thơ gắn liền với nhân cách, nhân cách lớn thì thơ lớn.
Rung động trước mùa thu, cất bút định làm thơ, Nguyễn Khuyến cảm thấy “thẹn với ông Đào”. Ông Đào ở đây tức là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), một nhà thơ nổi tiếng ở Trung Quốc thời Lục Triều. Ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, rồi chán ghét cảnh quan trường thối nát đã treo ấn từ quan, lui về ẩn dật và có bài Qui khứ lai từ rất nổi tiếng. Sao cụ Nguyễn lại “thẹn” với ông Đào? Thái độ này chưa từng thấy đối với các thi nhân cổ kim. về khoa bảng, ông Đào đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn cũng đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn lại còn có Tam Nguyên, người đời gọi cụ là Tam Nguyên Yên Đổ.
Về tài học, thơ của Nguyễn Khuyến kém gì thơ Đào Uyên Minh? Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ cổ điển lớn nhất của nước nhà được Xuân Diệu phong là “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” và hết lời ngợi ca. Có lẽ cụ Nguyễn “thẹn với ông Đào” là về khí tiết. Cụ Nguyễn thiếu cái dũng khí của ông Đào, người đã tư quan một cách dứt khoát, trở thành một nhân vật lừng danh về khí tiết trong giới quan trường Trung Hoa. Còn Nguyễn Khuyến thì lúng túng khi ra làm quan (thời đó ra làm quan tránh sao khỏi là tay sai của giặc Pháp) và lừng khừng khi đồng cảm của người đời. Đã về ẩn dật rồi, cụ Nguyễn vẫn còn chưa nguôi ân hận về những năm tham gia guồng máy chính quyền thối nát tàn bạo thời bấy giờ. Câu thơ của một tấm lòng chân thực là nỗi niềm u uẩn của một nhân cách lớn, của một nhà thơ lớn.
Thu vịnh là một bài thơ hay viết về mùa thu cua Nguyễn Khuyến. Bức tranh mùa thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển, không gian cao rộng, cảnh vật huyền ảo dưới ánh nắng trắng trong thể hiện nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Nhân vẻ đẹp của đêm thu. Nhà thơ cũng bộc bạch tâm sự sâu kín, chân thật của mình hết sức cảm động.
Cảnh thu được Nguyễn Khuyến trong bài “Thu vịnh” là cảnh thu của làng quê Việt Nam thời thực dân phong kiến, dưới cái nhìn của một bậc đại trí đã lui về ẩn dật nơi thôn dã. Không gian hẹp, mở ra bằng chiều cao với sắc trời đặc trưng của mùa thu xứ Bắc. Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm yêu, thêm quý quê hương đất nước của mình.











