Qua Tây Tiến của Quang Dũng và Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo, hãy làm sáng tỏ nhận định: Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập

qua-tay-tien-cua-quang-dung-va-dan-ghi-ta-cua-lor-ca-cua-thanh-thao-hay-lam-sang-to-nhan-dinh

“Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. (Mác-xen Prút)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy cảm nhận những thế giới khác do người nghệ sĩ tạo ra qua hệ thống thi ảnh độc đáo trong “Tây Tiến” (Quang Dũng) và “Đàn ghi ta của Lor-ca” (Thanh Thảo).

1. Giải thích ý kiến

– Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập Đây là cách nói hình ảnh của nhà văn Mác-xen Prút nhằm khẳng định bản lĩnh nghệ thuật của nghệ sĩ “thứ thiệt” – những nghệ sĩ biết cách tạo nên sức sống mới mẻ và lâu bền cho tác phẩm:

+ Một nghệ sĩ chân tài bao giờ cũng có cái nhìn riêng về thế giới và tạo lập được những tác phẩm văn học độc đáo với những nhân tố mới mẻ, không lặp lại bao giờ.

+ Nghệ sĩ độc đáo xuất hiện đồng nghĩa với việc đưa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo. Cụ thể, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ đích thực đã tạo ra những tác phẩm văn học có giá trị với sự tổ chức độc đáo bằng những mã nghệ thuật mới (về cách nhìn, kết cấu, lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, thể hiện hình ảnh, lựa chọn ngôn từ, giọng điệu, cho đến xác lập tứ thơ…).

– Cái độc đáo không trộn lẫn của nghệ sĩ chân tài còn thể hiện ở hiệu ứng thẩm mỹ dồi dào mà tác phẩm mang lại làm người tiếp nhận ghi nhớ mãi mãi, không thể nào quên.

→ Nhận xét: Ý kiến của Mác-xen Prút đã khẳng định một cách sâu sắc vai trò quyết định của cá tính sáng tạo trong lao động nghệ thuật. Văn học không đơn thuần phản ánh thế giới vốn có, mà thông qua tài năng và bản lĩnh của người nghệ sĩ, thế giới ấy được tái tạo bằng những góc nhìn mới, cảm xúc mới và những hình thức biểu đạt độc đáo. Mỗi nghệ sĩ chân chính, bằng dấu ấn cá nhân không trộn lẫn, đã góp phần mở rộng biên độ cảm thụ của con người về cuộc sống, làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân loại. Chính sự độc đáo ấy tạo nên giá trị lâu bền của tác phẩm, khiến văn học không ngừng vận động, đổi mới và sống mãi trong ký ức người đọc.

2. Phân tích, chứng minh ý kiến qua “Tây Tiến” (Quang Dũng) và “Đàn ghi ta của Lor-ca” (Thanh Thảo)

a. Tây Tiến của Quang Dũng

– Được tổ chức và sáng tạo qua hệ thống thi ảnh độc đáo:

+ Những thi ảnh tạo dựng không gian đặc trưng Tây Bắc với núi-sương-mây chơi vơi, khuất lấp, heo hút mà “chủ âm” chiếm lĩnh không gian là tiếng thác gầm thét, tiếng cọp trêu người.

+ Những thi ảnh đậm tính biểu tượng ấm nóng hơi người: súng ngửi trời, mưa xa khơi, mùa em, hội đuốc hoa, hồn lau nẻo bến bờ, mắt trừng gửi mộng, dáng kiều thơm,…

– Tạo ra những thế giới khác, khác hẳn thế giới thực tại và ám ảnh người đọc:

+ Không gian thực với núi rừng heo hút, sơn lam chướng khí như thể mất dấu nhường chỗ cho một vùng không gian nội cảm đậm chất Quang Dũng, phản chiếu dáng dấp trượng phu của kẻ sĩ Hà Thành: Những người lính Tây Tiến vào tử ra sinh an nhiên như thể đã quên mất cái chết, đang hành quân và đang âm thầm mơ tưởng…

+ Sự tổ chức kết nối các thi ảnh tạo nên sự giao cảm sâu sắc giữa con người và không gian (những vùng không gian ấm áp hương người): có dáng kiều thơm tôi thương mà em đâu có hay (chữ Quang Dũng) đi về trong mộng, có dáng đồng đội bồng súng đội trời, có nàng sơn nữ e ấp ẩn sau man điệu, có bóng ai chèo độc mộc chiều sương, có đôi mắt quắc oai hùng mà đa cảm,… Không gian thực là không gian chiến tranh kiểu như hồn tử sĩ gió ù ù thổi… không tồn tại ở đây. Tất cả đều biến thể qua nỗi nhớ cảnh, nhớ người của một người lính biên cương ngang tàng và lịch lãm.

→ Nhận xét: Qua Tây Tiến, Quang Dũng đã kiến tạo một thế giới nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân không thể trộn lẫn. Từ chất liệu hiện thực khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc và đời sống chiến binh, nhà thơ không sao chép lại hiện thực mà thăng hoa nó bằng trí tưởng tượng lãng mạn và cảm xúc nội tâm sâu sắc, tạo nên một không gian thơ vừa dữ dội vừa thơ mộng, vừa hoang sơ lại thấm đẫm hơi người. Hệ thống thi ảnh độc đáo, giàu tính biểu tượng cùng cách tổ chức không gian mang đậm màu sắc nội cảm đã làm nổi bật hình tượng người lính Tây Tiến bi tráng mà hào hoa, ngang tàng mà đa cảm. Chính cá tính sáng tạo ấy khiến Tây Tiến không chỉ là một bài thơ về chiến tranh, mà còn là miền ký ức thẩm mỹ ám ảnh, nơi vẻ đẹp con người và thiên nhiên hòa quyện, sống động và bền bỉ trong tâm trí người đọc.

b. Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo

– Được tổ chức và sáng tạo qua hệ thống thi ảnh độc đáo:

+ Những thi ảnh tạo dựng không gian đặc trưng Tây Ban Nha với áo choàng đỏ gắt, vầng trăng, yên ngựa, hoa Tử đinh hương (li-la li-la li-la)

+ Sự tổ chức kết nối các thi ảnh bằng kỹ thuật liên văn bản tạo ra sự đồng nhất giữa thi ca và âm nhạc, hội họa và điêu khắc, tự sự và trữ tình, mỹ học Tây phương và minh triết Đông phương để tôn vinh và thương tiếc một thiên tài đoản mệnh: những tiếng đàn bọt nước/li-la li-la li-la…/áo choàng đỏ gắt/áo choàng bê bết đỏ/tiếng ghi ta nâu/tiếng ghi ta lá xanh biết mấy/tiếng ghi ta tròn/tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy/chiếc ghi ta màu bạc/vầng trăng, yên ngựa/giọt nước mắt vầng trăng,…

– Tạo ra những thế giới khác, khác hẳn thế giới thực tại và ám ảnh người đọc:

+ Hệ thống thi ảnh mở ra một không gian văn hóa đặc trưng của xứ sở Tây ban cầm: Khúc du ca đồng nội, đấu trường, hoa li-la (Tử đinh hương) tím ngát, kẻ lãng du phiêu bồng…Thi ảnh “vầng trăng”, “yên ngựa” khi được cườm nhạc vào gợi liên tưởng hình ảnh Ph.G.Lor-ca khoác cây đàn hát nghêu ngao, rong ruổi trên yên ngựa truyền bá tiếng nói tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật.

+ Thủ pháp đồng nhất giữa hội họa và điêu khắc từ hệ thống thi ảnh áo choàng đỏ gắt/áo choàng bê bết đỏ/tiếng ghi ta nâu/tiếng ghi ta lá xanh biết mấy/ tiếng ghi ta tròn/tiếng ghi ta ròng ròng/máu chảy/chiếc ghi ta màu bạc thành một thứ ngôn ngữ tượng trưng: đỏ gắt (sự thách thức), bê bết đỏ (màu máu-cái chết), tiếng ghi ta nâu (màu đàn-sự hiện hữu mầu nhiệm), tiếng ghi ta lá xanh biết mấy (niềm hy vọng thiết tha), tiếng ghi ta tròn-ròng ròng máu chảy (cái chết-nỗi đau).

+ Kỹ thuật liên văn bản tích hợp đa chiều tạo tiếng nói đa thanh:

++ Tự sự: Đó là câu chuyện bàn về cái chết oan khiên của Lor-ca qua những câu thơ mang dáng dấp văn xuôi: Lor-ca bị điệu về bãi bắn/chàng đi như người mộng du/không ai chôn cất tiếng đàn/đường chỉ tay đã đứt.

++ Trữ tình: Buộc người đọc “Ở không yên ổn ngồi không vững vàng” vì thao thức khôn nguôi: Một Lor-ca đơn thương độc mã trên “đấu trường chính trị” trước thế lực bạo tàn Frăngcô. Một thiên tài cô đơn đi lang thang về miền đơn độc trong một nền nghệ thuật Tây Ban Nha già nua, lỗi thời. Một cái chết oan khốc thảm đau. Một nỗi tiếc thương vô hạn, sự mất mát lớn lao khi tiễn biệt một thiên tài.

++ Sự đồng nhất giữa tính tượng trưng của văn học phương Tây và sự minh triết trong văn học phương Đông qua các thi ảnh (“vầng trăng”, “yên ngựa”: Với văn học phương Tây là sự tượng trưng cho cái Đẹp và thú lãng du hải hồ. Nhưng với Đông phương lại chứa đựng chiều sâu minh triết: Đó là cái Đẹp mang ý vị vĩnh quyết với dự cảm biệt li nghìn trùng).

++ Là cả một thế giới nghệ thuật qua tâm thức sáng tạo của Thanh Thảo: Sự thương tiếc cùng nỗi lo cho nền nghệ thuật Tây Ban Nha thiếu vắng người dẫn đường và thiếu vắng bản lĩnh dám “đạp đổ thần tượng” để mở ra những chân trời…

→ Nhận xét: Đàn ghi ta của Lor-ca là minh chứng tiêu biểu cho bản lĩnh sáng tạo độc đáo và tư duy nghệ thuật hiện đại của Thanh Thảo. Bằng việc tổ chức một hệ thống thi ảnh giàu tính biểu tượng, đa tầng liên tưởng và được kết nối bằng kỹ thuật liên văn bản, nhà thơ đã kiến tạo nên một thế giới nghệ thuật khác biệt, vượt khỏi giới hạn của hiện thực thông thường. Ở đó, thi ca hòa quyện với âm nhạc, hội họa, điêu khắc; tự sự đan xen trữ tình; mỹ học phương Tây gặp gỡ chiều sâu minh triết phương Đông, tạo nên một không gian văn hóa – thẩm mỹ vừa lung linh vừa ám ảnh.

Không chỉ tái hiện bi kịch cái chết oan khuất của Lor-ca, bài thơ còn nâng tầm hình tượng người nghệ sĩ thành biểu tượng của khát vọng tự do, tinh thần cách tân và sự hi sinh cao cả vì cái Đẹp. Chính lối biểu đạt tượng trưng – siêu thực, giọng điệu đa thanh và chiều sâu triết luận đã khiến Đàn ghi ta của Lor-ca trở thành một bản “ai ca nghệ thuật” giàu sức lay động, để lại dư âm day dứt, đồng thời khẳng định Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại giàu ý thức cách tân và cá tính sáng tạo không thể trộn lẫn.

3. Đánh giá chung

– Nhận định được dẫn đã khái quát được vai trò của nghệ sĩ đích thực qua cá tính sáng tạo độc đáo của chính mình-qua một cách diễn đạt cô đọng, súc tích, ấn tượng.

– Quang Dũng và Thanh Thảo đã sáng tạo được những hệ thống thi ảnh độc đáo, góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm.

– Người tiếp nhận bằng sự đồng sáng tạo của mình đã thực sự đi vào những thế giới khác qua bản lĩnh nghệ thuật của cá nhân nhà văn.

→ Kết luận: Nhận định trên đã chỉ ra một chân lí bền vững của văn học: giá trị đích thực của tác phẩm được tạo nên từ cá tính sáng tạo không thể thay thế của người nghệ sĩ. Qua Tây Tiến của Quang Dũng và Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo, có thể thấy mỗi nghệ sĩ bằng thế giới hình tượng riêng, bút pháp riêng và hệ mã nghệ thuật riêng đã mở ra những không gian thẩm mỹ mới mẻ, giàu ám ảnh. Chính từ đó, người đọc không chỉ tiếp nhận tác phẩm một cách thụ động mà còn trở thành chủ thể đồng sáng tạo, cùng nhà văn khám phá và cảm nhận những “thế giới khác” của nghệ thuật. Văn học vì thế không ngừng được làm mới, tiếp tục sống lâu bền trong đời sống tinh thần của con người.

Bài văn tham khảo:

Mác-xen Prút từng cho rằng: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Ý kiến ấy không chỉ khẳng định vai trò của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật mà còn nhấn mạnh bản lĩnh cá nhân – cá tính sáng tạo – như điều kiện tiên quyết làm nên giá trị đích thực của văn học. Văn học không đơn thuần phản ánh thế giới đã có sẵn, mà bằng lăng kính riêng, người nghệ sĩ chân tài kiến tạo nên những “thế giới khác” – thế giới của cảm xúc, tư tưởng, biểu tượng và ám ảnh thẩm mỹ. Điều này được thể hiện rõ nét qua hai thi phẩm tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại: Tây Tiến của Quang Dũng và Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo.

Trước hết, cần hiểu rõ ý kiến của Mác-xen Prút. “Thế giới được tạo lập” ở đây không phải là thế giới vật chất hiện hữu, mà là thế giới nghệ thuật – thế giới được tái sinh qua cái nhìn, tư duy và cảm xúc của người nghệ sĩ. Mỗi nghệ sĩ độc đáo là một chủ thể sáng tạo mang cá tính riêng, có cách nhìn riêng về đời sống và con người. Khi xuất hiện, họ không lặp lại những gì đã có, mà mở ra cho người đọc một chân trời thẩm mỹ mới, thông qua những phương thức biểu hiện mang dấu ấn cá nhân: từ đề tài, chủ đề, kết cấu, hình tượng, ngôn từ đến giọng điệu và tứ thơ. Chính sự độc đáo ấy tạo nên hiệu ứng thẩm mỹ lâu bền, khiến tác phẩm không chỉ được đọc mà còn được nhớ, được ám ảnh, trở thành một “thế giới” riêng trong tâm thức người tiếp nhận.

Ý kiến của Mác-xen Prút đã khẳng định một cách sâu sắc vai trò quyết định của cá tính sáng tạo trong lao động nghệ thuật. Văn học không đơn thuần phản ánh thế giới vốn có, mà thông qua tài năng và bản lĩnh của người nghệ sĩ, thế giới ấy được tái tạo bằng những góc nhìn mới, cảm xúc mới và những hình thức biểu đạt độc đáo. Mỗi nghệ sĩ chân chính, bằng dấu ấn cá nhân không trộn lẫn, đã góp phần mở rộng biên độ cảm thụ của con người về cuộc sống, làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân loại. Chính sự độc đáo ấy tạo nên giá trị lâu bền của tác phẩm, khiến văn học không ngừng vận động, đổi mới và sống mãi trong ký ức người đọc.

Trong dòng chảy ấy, Tây Tiến của Quang Dũng là một minh chứng tiêu biểu cho việc người nghệ sĩ tạo lập thế giới nghệ thuật bằng hệ thống thi ảnh độc đáo. Bài thơ được tổ chức trên nền không gian miền Tây Bắc nhưng không dừng lại ở việc tái hiện hiện thực địa lí khắc nghiệt. Núi rừng Tây Bắc trong Tây Tiến hiện lên với sương mù, mây núi, vực sâu, thác dữ, thú rừng – một thế giới hoang sơ, hiểm trở. Tuy nhiên, “chủ âm” chiếm lĩnh không gian ấy không phải là sự đe dọa của thiên nhiên, mà là cảm xúc nội tâm của con người trước thiên nhiên. Tiếng “thác gầm thét”, “cọp trêu người” không nhằm gây sợ hãi mà làm nổi bật bản lĩnh của người lính – những con người dám đối diện, dám đi xuyên qua cái chết.

Điều làm nên “thế giới khác” của Tây Tiến chính là hệ thống thi ảnh giàu tính biểu tượng, thấm đẫm hơi người: “súng ngửi trời”, “mưa xa khơi”, “mùa em”, “hội đuốc hoa”, “hồn lau”, “mắt trừng gửi mộng”, “dáng kiều thơm”… Những hình ảnh ấy không phản ánh hiện thực một cách trực tiếp mà đã được “thăng hoa” qua nỗi nhớ và tâm thế của người lính – một kẻ sĩ Hà Thành ngang tàng, hào hoa. Không gian chiến tranh khốc liệt dường như tan biến, nhường chỗ cho một không gian nội cảm đậm chất Quang Dũng: nơi người lính hành quân giữa núi rừng mà như đang đi trong mộng tưởng, vừa đối mặt sinh tử vừa âm thầm mơ về cái đẹp, về tình người, về dáng kiều thơm nơi hậu phương.

Sự kết nối các thi ảnh trong Tây Tiến tạo nên mối giao cảm sâu sắc giữa con người và không gian. Núi rừng không vô tri mà mang linh hồn, còn con người không khô cứng mà đầy cảm xúc. Không gian miền Tây vì thế trở thành một miền ký ức được tái tạo qua nỗi nhớ – vừa dữ dội, vừa thơ mộng; vừa bi tráng, vừa lãng mạn. Đó là “thế giới Quang Dũng” – nơi cái chết được nhìn bằng tư thế ngẩng cao đầu, nơi gian khổ không triệt tiêu vẻ đẹp mà làm bừng sáng khí phách và tâm hồn người lính.

Qua Tây Tiến, Quang Dũng đã kiến tạo một thế giới nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân không thể trộn lẫn. Từ chất liệu hiện thực khắc nghiệt của núi rừng Tây Bắc và đời sống chiến binh, nhà thơ không sao chép lại hiện thực mà thăng hoa nó bằng trí tưởng tượng lãng mạn và cảm xúc nội tâm sâu sắc, tạo nên một không gian thơ vừa dữ dội vừa thơ mộng, vừa hoang sơ lại thấm đẫm hơi người. Hệ thống thi ảnh độc đáo, giàu tính biểu tượng cùng cách tổ chức không gian mang đậm màu sắc nội cảm đã làm nổi bật hình tượng người lính Tây Tiến bi tráng mà hào hoa, ngang tàng mà đa cảm. Chính cá tính sáng tạo ấy khiến Tây Tiến không chỉ là một bài thơ về chiến tranh, mà còn là miền ký ức thẩm mỹ ám ảnh, nơi vẻ đẹp con người và thiên nhiên hòa quyện, sống động và bền bỉ trong tâm trí người đọc.

Nếu Tây Tiến tạo lập một thế giới bi tráng – hào hoa của người lính kháng chiến, thì Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo lại mở ra một thế giới nghệ thuật hoàn toàn khác: thế giới của biểu tượng, của liên văn bản, của sự giao thoa giữa các loại hình nghệ thuật và các hệ mỹ học. Bài thơ được tổ chức qua hệ thống thi ảnh đặc trưng của văn hóa Tây Ban Nha: áo choàng đỏ gắt, vầng trăng, yên ngựa, hoa li-la… Những hình ảnh ấy không chỉ mang giá trị tả thực mà còn mang chiều sâu biểu tượng văn hóa.

Thanh Thảo đã kết nối các thi ảnh bằng kỹ thuật liên văn bản độc đáo, tạo ra sự đồng nhất giữa thơ ca và âm nhạc, hội họa và điêu khắc, tự sự và trữ tình, mỹ học phương Tây và minh triết phương Đông. Chuỗi hình ảnh “tiếng đàn bọt nước”, “tiếng ghi ta nâu”, “tiếng ghi ta lá xanh”, “tiếng ghi ta tròn”, “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy” không chỉ là âm thanh mà đã trở thành một thứ ngôn ngữ tượng trưng. Mỗi màu sắc, mỗi hình ảnh đều mang một tầng nghĩa: đỏ gắt là sự thách thức, bê bết đỏ là cái chết, lá xanh là hy vọng, tiếng đàn ròng ròng máu chảy là bi kịch của cái đẹp bị hủy diệt.

Qua hệ thống thi ảnh ấy, Thanh Thảo đã tạo dựng một không gian văn hóa Tây Ban Nha đậm chất nghệ sĩ: những khúc du ca, những đấu trường, những kẻ lãng du phiêu bồng trên yên ngựa. Hình ảnh Lor-ca hiện lên như một nghệ sĩ cô đơn, dấn thân cho tự do và cách tân nghệ thuật, nhưng phải đối mặt với cái chết oan khiên dưới chế độ độc tài Frăng-cô. Thế giới nghệ thuật trong bài thơ vì thế vừa là câu chuyện lịch sử, vừa là bi kịch của người nghệ sĩ, vừa là lời thương tiếc, suy tư sâu xa về số phận của cái đẹp và của nghệ thuật.

Đặc biệt, Đàn ghi ta của Lor-ca tạo nên tiếng nói đa thanh nhờ sự kết hợp linh hoạt giữa tự sự và trữ tình. Người đọc không chỉ “biết” về cái chết của Lor-ca mà còn “cảm” được nỗi đau, sự mất mát, sự ám ảnh khôn nguôi trước sự ra đi của một thiên tài. Đồng thời, qua những hình ảnh như “vầng trăng”, “yên ngựa”, bài thơ còn gợi mở chiều sâu minh triết phương Đông: cái đẹp mang dự cảm biệt li, sự ra đi như một hành trình vĩnh cửu của người nghệ sĩ.

Đàn ghi ta của Lor-ca là minh chứng tiêu biểu cho bản lĩnh sáng tạo độc đáo và tư duy nghệ thuật hiện đại của Thanh Thảo. Bằng việc tổ chức một hệ thống thi ảnh giàu tính biểu tượng, đa tầng liên tưởng và được kết nối bằng kỹ thuật liên văn bản, nhà thơ đã kiến tạo nên một thế giới nghệ thuật khác biệt, vượt khỏi giới hạn của hiện thực thông thường. Ở đó, thi ca hòa quyện với âm nhạc, hội họa, điêu khắc; tự sự đan xen trữ tình; mỹ học phương Tây gặp gỡ chiều sâu minh triết phương Đông, tạo nên một không gian văn hóa – thẩm mỹ vừa lung linh vừa ám ảnh.

Không chỉ tái hiện bi kịch cái chết oan khuất của Lor-ca, bài thơ còn nâng tầm hình tượng người nghệ sĩ thành biểu tượng của khát vọng tự do, tinh thần cách tân và sự hi sinh cao cả vì cái Đẹp. Chính lối biểu đạt tượng trưng – siêu thực, giọng điệu đa thanh và chiều sâu triết luận đã khiến Đàn ghi ta của Lor-ca trở thành một bản “ai ca nghệ thuật” giàu sức lay động, để lại dư âm day dứt, đồng thời khẳng định Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại giàu ý thức cách tân và cá tính sáng tạo không thể trộn lẫn.

Từ Tây Tiến đến Đàn ghi ta của Lor-ca, có thể nhận ra một cách thuyết phục sức sống bền vững của nhận định Mác-xen Prút về vai trò sáng tạo của người nghệ sĩ. Quang Dũng và Thanh Thảo, tuy đứng ở hai thời điểm lịch sử khác nhau và lựa chọn những con đường nghệ thuật khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở bản lĩnh sáng tạo độc đáo và ý thức sâu sắc về cái tôi nghệ sĩ. Bằng hệ thống thi ảnh mang dấu ấn cá nhân không thể trộn lẫn, mỗi nhà thơ đã kiến tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng biệt, không lặp lại, không hòa tan vào hiện thực đời sống thông thường.

Nếu Quang Dũng tái tạo hiện thực kháng chiến qua lăng kính lãng mạn để dựng nên một thế giới bi tráng mà hào hoa, nơi hình tượng người lính Tây Tiến vừa mang dáng dấp sử thi vừa thấm đẫm chất trữ tình, thì Thanh Thảo lại vượt qua ranh giới của thơ truyền thống để kiến thiết một thế giới biểu tượng – siêu thực, nơi số phận người nghệ sĩ Lor-ca được suy tưởng như một bi kịch mang ý nghĩa phổ quát về cái Đẹp, tự do và sự hi sinh. Cả hai thế giới nghệ thuật ấy đều không sao chép hiện thực mà tái cấu trúc hiện thực bằng tư duy thẩm mỹ mới, mở ra những chân trời cảm thụ sâu xa cho người đọc.

Chính ở khả năng kiến tạo những “thế giới khác” bằng cá tính sáng tạo độc đáo, Quang Dũng và Thanh Thảo đã minh chứng rõ ràng rằng: mỗi lần một nghệ sĩ chân chính xuất hiện là mỗi lần văn học được làm mới. Tác phẩm của họ không chỉ phản ánh đời sống mà còn làm giàu đời sống tinh thần con người, để lại những ám ảnh thẩm mỹ lâu dài và khẳng định sức sống bền bỉ của nghệ thuật chân chính trong tiến trình văn học.

Như vậy, ý kiến của Mác-xen Prút đã khái quát sâu sắc vai trò của người nghệ sĩ đích thực trong sáng tạo văn học. Văn học lớn không lặp lại thế giới, mà tái tạo thế giới bằng cái nhìn độc đáo. Và chính trong sự đồng sáng tạo giữa nhà văn và người đọc, những “thế giới khác” ấy tiếp tục được sống, được mở rộng, được làm mới qua từng thế hệ tiếp nhận.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang