Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ | Lớp 7
* Khái niệm– Đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ (bốn chữ hoặc năm chữ) thuộc kiểu văn biểu cảm, thể hiện cảm xúc của người viết về một bài thơ. * Yêu cầu đối với đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ– Biểu đạt một nội dung tương đối trọn vẹn, gồm nhiều câu được liên kết với nhau, bắt đầu bằng chữ viết hoa lùi vào đầu dòng và kết thúc bằng dấu câu dùng để ngắt đoạn. – Trình bày cảm xúc của người viết về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ. – Sử dụng ngôi thứ nhất để chia sẻ cảm xúc. – Cấu trúc gồm có ba phần:
* Dàn bài chi tiết:I. Mở đoạn: – Giới thiệu ngắn gọn tác phẩm, tác giả (Nêu được tên bài thơ và tên tác giả) – Nêu cảm xúc, ấn tượng chung về bài thơ: Bài thơ khơi gợi cho em cảm xúc gì (yêu thích, xúc động, tự hào, yêu thương, bình yên,…) về…. → chủ đề chính của bài thơ (tình yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương, đất nước,…). Ví dụ: Cách 1. Tôi rất yêu thích bài thơ (tên bài thơ) của tác giả (tên bài thơ) bởi vì bài thơ đã khơi gợi trong tôi những tình cảm sâu sắc về… (chủ đề bài thơ: tình yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương, đất nước,…) Cách 2. Bài thơ.… (tên bài thơ) của tác giả.… (tên bài thơ)là một khúc ca nhẹ nhàng, trong trẻo, đằm thắm… (cảm xúc)…. về… (chủ đề bài thơ: tình yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương, đất nước, cuộc sống,…) II. Thân đoạn: 1. Bày tỏ cảm xúc (cảm nhận) về ý nghĩa nội dung chủ đề bài thơ qua các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết: + Cảm nhận vẻ đẹp từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nổi bậc → gợi hình, gợi cảm, gây ấn tượng mạnh mẽ của bài thơ. + Bày tỏcảm xúc của bản thân về những hình ảnh, từ ngữ, chi tiết đó (ngạc nhiên, thích thú, xúc động, yêu thương, khâm phục, tự hào…). + Cảm nhận tình cảm của tác giả được gửi gắm qua bài thơ (tình yêu thiết tha đối với thiên nhiên, gia đình, quê hương, đất nước, khát vọng sống cao đẹp,…) → Nhận xét cách thể hiện tình cảm (tình cảm ấy được thể hiện một cách chân thành, giản dị, sâu lắng, tinh tế,…). 2. Bày tỏ cảm xúc (cảm nhận) về một hoặc một vài đặc sắc nghệ thuật: + Cảm nhận vai trò của thể thơ trong việc thể hiện nội dung, chủ đề: nhẹ nhàng, trong trẻo, rất phù hợp trong việc diễn tả những cảm xúc hồn nhiên, tươi sáng và sâu lắng của tâm hồn. + Cảm nhận về biện pháp tu từ: Chỉ ra một số biện pháp nổi bật (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, điệp từ, hoán dụ, đảo ngữ, v.v…) và nêu tác dụng cụ thể (gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh cảm xúc, tạo âm hưởng, gây ấn tượng mạnh mẽ, tác động sâu sắc vào tình cảm của người đọc,…). + Cảm nhận về ngôn ngữ thơ (giản dị, trong sáng, gần gũi, giàu nhạc tính, gợi được vẻ đẹp trong trẻo, tinh khôi,…).Ví dụ: Ngôn ngữ thơ giản dị mà gợi cảm, giàu nhạc điệu giúp truyền tải cảm xúc sâu lắng, chân thành. + Cảm nhận giọng điệu của bài thơ (trầm lắng, tha thiết, sâu lắng, vui tươi, tự hào…). Ví dụ: Giọng điệu thiết tha, sâu lắng đã làm nổi bật vẻ đẹp của cảm xúc chân thành, mộc mạc mà thấm thía. 3. Rút ra ý nghĩa, thông điệp của bài thơ: + Qua bài thơ, tác giả muốn gửi gắm đến người đọc điều gì? (tình yêu thương, lòng biết ơn, ý thức sống đẹp, trân trọng thiên nhiên, v.v…). + Ý nghĩa ấy có giá trị như thế nào trong cuộc sống hôm nay? → Bản thân em học được điều gì, thay đổi cách nhìn nhận hay cảm xúc ra sao sau khi đọc bài thơ? II. Kết đoạn: – Khẳng định lại cảm xúc về bài thơ (đọng lại trong em những tình cảm sâu sắc, thiêng liêng, khiến em càng thêm yêu mến… thiên nhiên, gia đình, quê hương, đất nước, có khát vọng sống cao đẹp,… – Ý nghĩa, tác động của bài thơ đối với tình cảm, nhận thức: Từ bài thơ, bản thân có suy nghĩ hoặc hành động tích cực nào ? (Nêu tác động của bài thơ đến nhận thức, tình cảm bản thân. Từ đó, thể hiện sự thay đổi trong cách nghĩ, cách sống hoặc cách trân trọng những gì có ở xung quanh mình: biết yêu thương, trân trọng, gắn bó, càng thêm yêu mến, nhận ra trách nhiệm của bản thân đối với,… sống nhân ái hơn,…). Ví dụ: Bài thơ không chỉ để lại trong em những xúc cảm sâu sắc mà còn giúp em nhận ra nhiều giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Qua những hình ảnh và cảm xúc mà tác giả gửi gắm, em thêm yêu quý gia đình, trân trọng quê hương, thiên nhiên, đất nước và học được cách sống chân thành, biết ơn, giàu tình cảm hơn. * VÍ DỤ MINH HỌA:DÀN BÀI: CẢM XÚC VỀ BÀI THƠ “MÙA THU CỦA EM” (Quang Huy)Xem bài thơ: MÙA THU CỦA EM (Quang Huy) I. Mở đoạn: – Giới thiệu tác phẩm, tác giả và nêu cảm xúc chung về bài thơ: Tôi rất yêu thích bài thơ “Mùa thu của em” của Quang Huy bởi bài thơ đã khơi gợi trong tôi những cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo về mùa thu quê hương và tuổi học trò đáng yêu. II. Thân đoạn: 1. Trình bày cảm xúc về nội dung, chủ đề: – Cảm nhận vẻ đẹp mùa thu trong bài thơ: Vẻ đẹp mùa thu được cảm nhận bằng ánh nhìn trẻ thơ, rất hồn nhiên và trong trẻo:
→ Những hình ảnh, âm thanh, hương vị thân thuộc ấy khiến em nhớ đến mùa thu quê hương, nhớ tiếng trống ngày khai trường và niềm háo hức cắp sách đến lớp. – Cảm nhận tình cảm của tác giả qua bài thơ: Qua bài thơ, tác giả gửi gắm tình yêu thiên nhiên, quê hương và tuổi học trò, đồng thời thể hiện tâm hồn tinh tế, trong sáng và yêu đời. 2. Trình bày cảm xúc về đặc sắc nghệ thuật:
→ Bài thơ giúp em nhận ra mùa thu không chỉ là thời khắc của thiên nhiên đổi thay, mà còn là mùa của niềm vui học tập, tình bạn và những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ. 3. Rút ra ý nghĩa, thông điệp bài thơ muốn gửi gắm đến người đọc: – Qua bài thơ, tác giả muốn nhắc nhở chúng ta hãy biết trân trọng những điều bình dị quanh mình, yêu mến thiên nhiên, giữ gìn cuộc sống yên ấm và nuôi dưỡng trong tim niềm tự hào về Tổ quốc. – Bản thân em hiểu rằng: sống đẹp không chỉ là học giỏi, làm việc tốt, mà còn là biết yêu thương, biết ơn và trân trọng những điều bình dị mà cuộc sống ban tặng. – Khẳng định lại cảm xúc: Bài thơ “Mùa thu của em” đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc và cảm xúc dịu dàng về một mùa thu đầy màu sắc, hương vị và niềm vui tuổi thơ. – Ý nghĩa của bài thơ đối với em: Đọc “bài thơ, em càng yêu hơn mùa thu quê hương, được sống lại với kí ức tuổi thơ hồn nhiên, rộn ràng và thấy lòng mình trong trẻo, hồn nhiên như chính lời thơ giản dị mà tha thiết của nhà thơ Quang Huy. DÀN BÀI: CẢM XÚC VỀ BÀI THƠ “RỪNG MƠ” (TRẦN LÊ VĂN)Xem bài thơ: RỪNG MƠ (Trần Lê Văn) I.Mở đoạn: – Giới thiệu tên tác phẩm, tên tác giả và cảm nhận chung về nội dung, chủ đề bài thơ: Bài thơ “Rừng mơ” của Trần Lê Văn là một khúc ca nhẹ nhàng, trong trẻo về vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và tình yêu quê hương thắm thiết qua hình ảnh rừng hoa mơ nở. II. Thân đoạn: 1. Trình bày cảm xúc về ý nghĩa nội dung chủ đề: – Cảm nhận về vẻ đẹp của rừng mơ qua từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nổi bậc:
– Cảm nhận tình cảm của tác giả thể hiện qua bài thơ:
2. Trình bày cảm xúc về đặc sắc nghệ thuật bài thơ:
3. ý nghĩa, thông điệp của bài thơ (bài thơ gửi gắm đến người đọc điều gì?): – Bài thơ nhắc nhở mỗi người hãy biết nâng niu, gìn giữ và trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương, bởi trong đó ẩn chứa hồn quê, hồn dân tộc. – Đọc “Rừng mơ”, em nhận ra rằng thiên nhiên không chỉ là cảnh sắc mà còn là nơi lưu giữ tâm hồn, ký ức và tình yêu quê hương của con người. III. Kết đoạn: – Khẳng định sức lan tỏa của bài thơ: “Rừng mơ” là một bức tranh thiên nhiên mùa xuân thanh khiết và tràn đầy sức sống. Khép lại bài thơ, người đọc như còn cảm nhận được hương mơ lan tỏa – hương của đất trời, của tình yêu và niềm tự hào dân tộc. – Ý nghĩa của bài thơ đối với bản thân: Bài thơ giúp em hiểu rằng: yêu quê hương không chỉ là cảm xúc, mà còn là trách nhiệm trân trọng, gìn giữ và nâng niu từng vẻ đẹp bình dị quanh mình. |
* ĐOẠN VĂN:
Viết đoạn văn khoảng 500 chữ cảm nhận bài thơ “Rừng mơ” của Trần Lê Văn
Đoạn văn 1:
Bài thơ “Rừng mơ” của Trần Lê Văn là một khúc ca dịu dàng, trong trẻo, chan chứa tình yêu quê hương đất nước. Với những vần thơ mộc mạc mà tinh tế, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên Hương Sơn giữa mùa hoa mơ nở, vừa đẹp đẽ, nên thơ, vừa gợi lên niềm tự hào sâu sắc về non sông gấm vóc Việt Nam. Bài thơ không chỉ là lời ngợi ca vẻ đẹp của tạo hóa mà còn là tiếng lòng tha thiết của người con dành cho quê hương – nơi gắn bó máu thịt, nơi lưu giữ bao kỷ niệm yêu thương. Giữa mùa hoa mơ nở trắng trời, Hương Sơn như khoác lên mình tấm áo mới – một sắc trắng tinh khôi, dịu dàng, thanh khiết. Câu thơ “Núi vì hoa trẻ mãi” gợi lên vẻ đẹp tươi non, tràn đầy sức sống của cảnh vật. Cả núi rừng, đất trời như được hồi sinh, như trẻ lại trong hương hoa mơ mát lành. Những câu thơ “Rừng mơ ôm lấy núi / Mây trắng đọng thành hoa” lại mở ra một không gian vừa hùng vĩ vừa mềm mại, nơi thiên nhiên và con người như hòa vào nhau trong nhịp thở của mùa xuân. Giữa khung cảnh mơ màng ấy, người đọc cảm nhận được sự giao hòa tuyệt vời giữa mây, núi và hoa – giữa đất trời và lòng người. Ẩn sau bức tranh thiên nhiên đầy sức gợi là tình cảm chân thành, sâu sắc của nhà thơ dành cho quê hương đất nước. Nhà thơ không chỉ miêu tả vẻ đẹp của Hương Sơn mà còn gửi gắm trong đó niềm tự hào và tình yêu tha thiết với quê hương. Với tác giả, mỗi cánh hoa mơ, mỗi làn gió, mỗi dải mây đều chứa đựng hồn cốt dân tộc, là biểu tượng của sự gắn bó máu thịt giữa con người và quê hương. Tình yêu ấy không chỉ là của riêng nhà thơ, mà còn là tình cảm chung của biết bao người Việt Nam – dù đi xa, trong lòng vẫn luôn hướng về quê mẹ thân thương. Sức hấp dẫn của bài thơ còn được thể hiện qua nghệ thuật độc đáo. Bài thơ nổi bật với thể thơ năm chữnhẹ nhàng, nhịp điệu uyển chuyển như khúc nhạc mùa xuân vang vọng giữa núi rừng. Hình ảnh thơ được lựa chọn tinh tế, giàu sức gợi: “mây trắng đọng thành hoa”, “quả vàng chíu chít”, “gió chiều đông gờn gợn”… Những hình ảnh ấy vừa chân thực, vừa mộng mơ, làm cho cảnh vật thêm phần lung linh, huyền ảo. Giọng thơ chan chứa cảm xúc, kết hợp hài hòa giữa tả và gợi, khiến người đọc không chỉ thấy được vẻ đẹp của cảnh mà còn cảm nhận được hơi thở, nhịp sống và tình người trong từng câu chữ. Bài thơ gửi đến người đọc một thông điệp sâu sắc: hãy biết trân trọng, gìn giữ mái ấm gia đình, mảnh đất quê hương – nơi ta sinh ra và lớn lên; hãy nuôi dưỡng trong tim tình yêu gia đình, quê hương, đất nước – bởi đó là cội nguồn sức mạnh, là điểm tựa tinh thần trong mỗi con người. Khép lại bài thơ, hương mơ như vẫn còn lan tỏa – hương của đất trời, của tình yêu và niềm tự hào dân tộc. “Rừng mơ” không chỉ là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là bản nhạc lòng vang lên những âm điệu tha thiết về tình yêu quê hương. Bài thơ giúp em nhận ra rằng: yêu quê hương không chỉ là cảm xúc, mà còn là trách nhiệm – trách nhiệm gìn giữ, nâng niu từng vẻ đẹp bình dị quanh mình, để hương mơ mãi tỏa ngát giữa cuộc đời.
Đoạn văn 2:
Viết đoạn văn khoảng 500 chữ cảm nhận bài thơ “Rừng mơ” của Trần Lê Văn
Bài thơ “Rừng mơ” của Trần Lê Văn là một khúc ca nhẹ nhàng, trong trẻo về vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và tình yêu quê hương thắm thiết qua hình ảnh rừng hoa mơ nở. Giữa mùa hoa mơ nở, cả Hương Sơn như khoác lên mình tấm áo trắng tinh khôi và thanh khiết. Hình ảnh “Núi vì hoa trẻ mãi” gợi cảm giác đất trời như được hồi sinh, như bừng sáng sức sống mới trong hơi thở của mùa xuân. Rừng mơ trắng dịu dàng “ôm lấy núi”, Mây trắng trên trời cao như cũng “đọng thành hoa” vừa gợi vẻ hùng vĩ, vừa toát lên nét mềm mại, quyến rũ của thiên nhiên, đất trời. Thiên nhiên và con người như hòa vào nhau, cùng sống, cùng thở trong nhịp điệu tươi mới của đất trời. Ẩn sau bức tranh mơ màng ấy là tình cảm chân thành, tha thiết của nhà thơ đối với quê hương, đất nước. Tác giả không chỉ ngợi ca vẻ đẹp của Hương Sơn mà còn gửi gắm trong từng câu chữ niềm tự hào, tình yêu sâu nặng dành cho quê hương xứ sở. Đó là tình yêu quê hương chung của mỗi người Việt – dù đi đâu xa, trái tim vẫn luôn hướng về nguồn cội thiêng liêng, nơi lưu giữ tuổi thơ, kỷ niệm và hồn dân tộc. Thể thơ năm chữ với nhịp điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển như khúc nhạc mùa xuân làm cho bài thơ trở nên mềm mại, trong sáng và tràn đầy sức sống. Biện pháp nhân hóa được vận dụng tinh tế: “rừng mơ ôm lấy núi”, “mây trắng đọng thành hoa”, “quả vàng chíu chít như trời sao quây quần” tạo nên những hình ảnh thơ lung linh, sống động, gợi cảm xúc trong trẻo, mơ màng. Hình ảnh thơ tinh tế, giàu sức gợi: “mây trắng đọng thành hoa”, “gió chiều đông gờn gợn”… khiến bức tranh thiên nhiên vừa thực, vừa mộng. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu nhạc tính, giúp truyền tải cảm xúc sâu lắng, chân thành. Giọng điệu thơ nhẹ nhàng, tha thiết, đằm sâu, chan chứa niềm tự hào và tình yêu quê hương tha thiết. Qua bài thơ, tác giả nhẹ nhàng nhắn nhủ người đọc: hãy biết nâng niu, gìn giữ và trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương, bởi trong đó ẩn chứa hồn quê, hồn dân tộc. Đọc “Rừng mơ”, em nhận ra rằng thiên nhiên không chỉ là cảnh sắc mà còn là nơi lưu giữ tâm hồn, ký ức và tình yêu quê hương của con người. Khép lại bài thơ, sắc trắng của hoa mơ dường như vẫn còn phảng phất trong tâm hồn, gợi nên cảm giác thanh khiết, bình yên và xao xuyến khó quên. Đó không chỉ là bức tranh thiên nhiên mùa xuân thanh khiết, tràn đầy sức sống, mà còn là bản tình ca dịu dàng về tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ giúp em hiểu rằng: yêu quê hương không chỉ là cảm xúc, mà còn là trách nhiệm trân trọng và gìn giữ từng vẻ đẹp bình dị quanh mình, để những mùa “rừng mơ” vẫn mãi nở trắng trong lòng mỗi người Việt Nam.
Đoạn văn 3:
Viết đoạn văn khoảng 500 chữ cảm nhận bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
“Sang thu” của Hữu Thỉnh là một thi phẩm đặc sắc, giàu sức gợi, viết về khoảnh khắc giao mùa tinh tế của thiên nhiên đất trời khi hạ dần qua, thu vừa chớm tới. Điểm độc đáo của bài thơ không chỉ nằm ở những câu chữ giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh mà còn thể hiện ở cách cảm nhận thiên nhiên vô cùng tinh tế, đa chiều của tác giả. Nhà thơ không quan sát mùa thu bằng một góc nhìn đơn lẻ mà huy động nhiều giác quan khác nhau để cảm nhận: từ khứu giác với “hương ổi” thoang thoảng, thính giác với những rung động nhẹ nhàng của không gian, đến thị giác với hình ảnh “sương chùng chình qua ngõ”, dòng sông “dềnh dàng”, hay đám mây mùa hạ “vắt nửa mình sang thu”. Những hình ảnh ấy vừa quen thuộc, gần gũi với làng quê Việt Nam, lại vừa mới lạ, giàu chất tạo hình và gợi cảm. Đặc biệt, hình ảnh “đám mây vắt nửa mình sang thu” là một sáng tạo đầy chất thơ, gợi lên ranh giới mong manh, mơ hồ nhưng cũng rất đẹp giữa hai mùa. Không dừng lại ở đó, cách cảm nhận của tác giả còn thể hiện một trình tự tinh tế: từ xa đến gần (từ “hương ổi” lan trong không gian đến làn “sương” ngay trước ngõ), từ cái vô hình (hương thơm, làn gió se nhẹ) đến cái hữu hình (dòng sông, đám mây), qua đó làm nổi bật bước chuyển nhẹ nhàng mà rõ rệt của thời gian và cảnh vật. Chính sự cảm nhận tinh vi ấy đã tạo nên một “Sang thu” rất riêng, không ồn ào, không rực rỡ mà lắng đọng, dịu dàng và sâu sắc. Có thể nói, bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ mà còn là lời nhắc nhở con người biết lắng lại, biết cảm nhận những biến chuyển tinh tế của cuộc sống. Vì vậy, “Sang thu” đã góp phần làm mới mẻ đề tài mùa thu trong thơ ca Việt Nam, để lại trong lòng người đọc những rung động nhẹ nhàng mà bền lâu.
Đoạn văn 4:
Viết đoạn văn khoảng 500 chữ cảm nhận bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
Bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn, thể hiện niềm xót xa trước sự mai một của một nét đẹp văn hóa truyền thống trong xã hội Việt Nam xưa. Hình ảnh ông đồ – người viết câu đối đỏ mỗi dịp Tết đến xuân về – vốn từng là biểu tượng của tri thức Nho học và được mọi người kính trọng. Những năm tháng ấy hiện lên thật đẹp qua khổ thơ đầu: “Mỗi năm hoa đào nở / Lại thấy ông đồ già…”, với không khí rộn ràng, đông vui, người người “tấm tắc ngợi khen tài”. Tuy nhiên, dòng chảy của thời gian cùng sự thay đổi của xã hội đã khiến hình ảnh ông đồ dần trở nên lạc lõng. Từ chỗ được trọng vọng, ông rơi vào cảnh bị lãng quên: “Nhưng mỗi năm mỗi vắng / Người thuê viết nay đâu?”. Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi day dứt, xót xa trước sự thờ ơ của con người với những giá trị xưa cũ. Đặc biệt, nỗi buồn ấy được khắc sâu qua những hình ảnh giàu sức gợi: “Giấy đỏ buồn không thắm / Mực đọng trong nghiên sầu”. Nghệ thuật nhân hóa khiến cảnh vật cũng mang tâm trạng, như đồng cảm với số phận của ông đồ. Không chỉ con người cô đơn, mà cả những vật vô tri cũng trở nên trống vắng, hiu quạnh. Hình ảnh “lá vàng rơi trên giấy / ngoài trời mưa bụi bay” càng làm tăng thêm không gian ảm đạm, gợi lên sự tàn phai của một thời đã qua. Ông đồ ngồi đó, lặng lẽ, cô độc giữa dòng đời hối hả, như một “di tích sống” của quá khứ đang dần bị quên lãng. Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng một câu hỏi đầy ám ảnh: “Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”. Đây không chỉ là lời hỏi về ông đồ, mà còn là lời tiếc nuối cho cả một lớp người, một nền văn hóa đang dần biến mất. Câu hỏi ấy không có lời đáp, nhưng lại gợi lên trong lòng người đọc biết bao suy tư về trách nhiệm gìn giữ những giá trị truyền thống. Qua hình tượng ông đồ, Vũ Đình Liên đã bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với những con người tài hoa nhưng lạc thời, đồng thời kín đáo phê phán xã hội vô tình đã quay lưng với quá khứ. Với giọng điệu trầm buồn, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, “Ông đồ” không chỉ là một bài thơ tả cảnh, tả người mà còn là một lời nhắc nhở đầy ý nghĩa: trong dòng chảy của thời gian và sự đổi thay của cuộc sống, con người không nên quên đi cội nguồn và những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp.
Đoạn văn 5:
Viết đoạn văn khoảng 500 chữ cảm nhận bài thơ “Con chim chiền chiện” của Vũ Huy Cận
Xem bài thơ: Con chim chiền chiện (Huy Cận)
Bài thơ “Con chim chiền chiện” của Huy Cận là một khúc ca trong trẻo, rộn ràng về thiên nhiên và cuộc sống mới, thể hiện tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với đất trời và con người trong thời kì xây dựng đất nước. Mở đầu bài thơ là hình ảnh con chim chiền chiện nhỏ bé nhưng tràn đầy sức sống, cất cao tiếng hót giữa không gian cao rộng của bầu trời. Tiếng chim không chỉ đơn thuần là âm thanh của tự nhiên mà còn trở thành biểu tượng của niềm vui, của sự sống đang dâng trào. Những câu thơ như “Hót chi mà vang trời / Từng giọt long lanh rơi” đã cho thấy cảm nhận vô cùng tinh tế của tác giả: âm thanh được cảm nhận bằng thị giác, biến thành “giọt” – một hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi nên sự trong trẻo, tinh khôi của tiếng chim. Không gian trong bài thơ được mở rộng với những hình ảnh đẹp đẽ, tràn đầy ánh sáng và sức sống: bầu trời xanh cao, cánh đồng lúa chín vàng, làn gió nhẹ đưa hương thơm lan tỏa. Con chim chiền chiện bay lượn tự do giữa không gian ấy, như một điểm nhấn làm bừng lên sức sống của thiên nhiên. Qua đó, người đọc cảm nhận được bức tranh quê hương thanh bình, tươi đẹp sau những năm tháng chiến tranh gian khổ. Tiếng chim không chỉ là âm thanh của thiên nhiên mà còn như tiếng gọi của cuộc sống mới, khơi dậy trong lòng con người niềm tin và hi vọng. Đặc biệt, bài thơ không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật mà còn thể hiện rõ cảm xúc của nhà thơ. Trước tiếng chim chiền chiện, tác giả bày tỏ niềm say mê, trân trọng: “Tôi đưa tay tôi hứng”. Hành động “hứng” ấy vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa biểu tượng, thể hiện khát khao đón nhận, nâng niu những vẻ đẹp của cuộc sống. Đó cũng là tâm thế của con người trong thời đại mới: mở lòng đón nhận niềm vui, tin tưởng vào tương lai. Tiếng chim vì thế không chỉ là âm thanh bên ngoài mà còn vang lên trong tâm hồn, trở thành nguồn cảm hứng nuôi dưỡng tình yêu cuộc sống. Với thể thơ ngắn gọn, nhịp điệu linh hoạt, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, Huy Cận đã tạo nên một bài thơ giàu nhạc điệu và hình ảnh. “Con chim chiền chiện” không chỉ là bức tranh thiên nhiên tươi sáng mà còn là khúc ca lạc quan, yêu đời, khơi dậy trong mỗi người tình yêu quê hương, đất nước và niềm tin vào những điều tốt đẹp của cuộc sống.
Đoạn văn 6:
Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ NẮNG HỒNG của Bảo Ngọc
Xem bài thơ: NẮNG HỒNG (Bảo Ngọc)
Bài thơ “Nắng hồng” của Bảo Ngọc mang đến cho người đọc những cảm xúc ấm áp, trong trẻo về thiên nhiên và cuộc sống. Ngay từ nhan đề, “nắng hồng” đã gợi lên một sắc màu dịu dàng, tươi sáng, không chói chang gay gắt mà nhẹ nhàng lan tỏa, như ôm ấp vạn vật trong sự dịu êm. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được bức tranh thiên nhiên rực rỡ mà gần gũi, nơi ánh nắng len lỏi qua từng tán lá, soi sáng không gian và làm bừng lên sức sống của cảnh vật. Nắng không chỉ là một hiện tượng tự nhiên mà còn trở thành một hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng, gợi liên tưởng đến niềm vui, sự ấm áp và những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Điều khiến bài thơ trở nên đặc biệt là cách tác giả cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn hồn nhiên, tinh tế. Ánh nắng hiện lên không tĩnh tại mà luôn vận động, khi thì nhẹ nhàng vương trên cành lá, khi lại nhảy nhót trên mặt đất, tạo nên những hình ảnh sống động, giàu sức gợi. Qua đó, người đọc như được hòa mình vào không gian trong trẻo, thanh bình, cảm nhận được hơi thở dịu dàng của cuộc sống quanh mình. Bài thơ không cầu kỳ về ngôn từ nhưng lại giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, khiến mỗi câu chữ đều như thấm đượm ánh sáng và hơi ấm. Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên, “Nắng hồng” còn khơi dậy trong lòng người đọc những rung động nhẹ nhàng về cuộc sống. Ánh nắng trong bài thơ giống như một nguồn năng lượng tích cực, mang đến niềm tin, niềm vui và sự lạc quan. Đó cũng là lời nhắc nhở con người hãy biết trân trọng những điều giản dị xung quanh, biết mở lòng để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống. Với giọng điệu trong sáng, hồn nhiên cùng cảm xúc chân thành, Bảo Ngọc đã tạo nên một bài thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng, để lại trong lòng người đọc những dư âm ấm áp, dịu dàng như chính ánh “nắng hồng” của thiên nhiên.
Đoạn văn 7:
Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ NẮNG HỒNG của Bảo Ngọc
Đọc bài thơ Nắng hồng của Bảo Ngọc, lòng tôi thực sự xúc động và xao xuyến trước những vần thơ giản dị mà chan chứa tình cảm. Tác giả đã mở ra trước mắt người đọc một bức tranh mùa đông lạnh giá: “cây trơ trụi”, “trời xám”, “chim sẻ lặng im”, “ong vắng bóng”, “mưa phùn giăng đầy ngõ”. Dòng chảy cảm xúc trong bài thơ đi từ sự lạnh lẽo, buốt giá của mùa đông để rồi bừng sáng, ấm áp khi có sự xuất hiện của người mẹ thân yêu. Hình ảnh nghệ thuật đẹp nhất và gây ấn tượng sâu sắc chính là “chiếc áo choàng màu đỏ / Như đốm nắng đang trôi” – một so sánh độc đáo khiến mẹ hiện lên như nguồn sáng, nguồn hơi ấm sưởi ấm cả không gian băng giá. Biện pháp nhân hóa “se sẻ giấu tiếng hát”, “chị ong chăm chỉ cũng không đến vườn hoa” đã làm cho bức tranh mùa đông thêm sinh động, gợi cảm và gần gũi. Bài thơ không chỉ vẽ nên cảnh vật mà còn khắc họa tình mẹ thiêng liêng, ấm áp, khiến người đọc bồi hồi, xúc động. Qua đó, ta nhận ra ý nghĩa sâu xa: mẹ chính là “nắng hồng”, là mùa xuân của gia đình, xua tan giá lạnh, mang lại sự sống và niềm vui. Qua từng câu chữ, Bảo Ngọc khéo léo khắc họa tình cảm mẹ con giản dị nhưng có sức mạnh phi thường. Món quà mẹ mang về không chỉ có bánh quà mà còn là cả một mùa xuân nồng ấm. “Nắng Hồng” là bài thơ làm ấm lòng người đọc bằng sự ấm áp của tình thân, là khoảnh khắc mà ánh sáng và hy vọng bắt đầu bừng sáng. Bài thơ để lại trong tôi niềm xúc động chân thành và nhắc nhở em phải sống hiếu thảo, yêu thương, chia sẻ nhiều hơn với mẹ trong đời sống hằng ngày.
BẢNG KIỂM ĐOẠN VĂN GHI LẠI CẢM XÚC VỀ MỘT BÀI THƠ BỐN CHỮ HOẶC NĂM CHỮ
| Các phần của đoạn văn | Nội dung kiểm tra | Đạt | Chưa đạt |
| Mở đoạn | – Mở đoạn bằng chữ viết hoa lùi vào đầu dòng. | ||
| – Dùng ngôi thứ nhất để trình bày cảm xúc về bài thơ. | |||
| – Có câu chủ đề nêu tên bài thơ, tên tác giả và cảm xúc khái quát về bài thơ. | |||
| Thân đoạn | – Trình bày cảm xúc về bài thơ theo trình tự hợp lí. | ||
| – Làm rõ cảm xúc bằng những hình ảnh, từ ngữ được trích từ bài thơ. | |||
| – Dùng các từ ngữ để liên kết các câu. | |||
| Kết đoạn | – Khẳng định lại cảm xúc và ý nghĩa của bài thơ đối với bản thân. | ||
| – Kết đoạn bằng dấu câu dùng để ngắt đoạn. |











