Đọc hiểu truyện truyền kì Lớp 9

doc-hieu-van-ban-truyen-truyen-ki-lop-9

Đọc hiểu truyện truyền kì Lớp 9 | Chi tiết

ĐỀ BÀI 1: NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU

Đọc đoạn trích sau:

NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU

(Lược dẫn phần đầu: Từ Đạt ở Khoái Châu, làm quan tại thành Đông Quan, kết thông gia với nhà quan Thiêm thư là Phùng Lập Ngôn. Con trai Phùng là Trọng Quỳ kết duyên với con gái Từ là Nhị Khanh. Nhị Khanh biệt cư xử khéo léo, được khen là người nội trợ hiền. Trọng Quỳ lớn lên, dần sinh chơi bời lêu lổng, Nhị Khanh thường vẫn can ngăn. Trong triều nhiều kẻ ghét Phùng Lập Ngôn, tiến cử vua cho ông đi dẹp giặc. Phùng Ngôn để Nhi Khanh ở lại quê nhà, cùng con trai vào Nghệ An.)

Trọng Quỳ thấy Nhị Khanh không đi, có ý quyến luyến không dứt. Nhị Khanh ngăn bảo rằng:

– Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để ở lại nơi khu yếu, bề ngoài và tiến cử đến chốn hùng phiên, bên trong thực dồn đuổi vào chỗ tử địa. Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm không người săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp đâu dám đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo. Mặc dầu cho phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng bận lòng đến chốn hương khuê.

Sinh không đừng được, mới bày một bữa tiệc từ biệt, rồi cùng Lập Ngôn đem người nhà đi vào phương nam. Không ngờ lòng giời khó hiểu, việc người khôn lường, cha mẹ Nhị Khanh nối nhau tạ thế. Nàng đưa tang về Khoái Châu, chôn cất cúng tế xong rồi, đến cùng ở chung với bà cô Lưu thị.

(Lược một đoạn: Bà cô Lưu thị có người cháu ngoại là quan tướng quân họ Bạch muốn lấy Nhị Khanh. Lưu thị bằng lòng, khôn khéo khuyên Nhị Khanh đồng ý, nhưng nàng một mực chối từ. Nhị Khanh nhờ người bõ già vốn là đầy tớ cũ, lặn lội vào xứ Nghệ để hỏi thăm tin tức thì gặp được Phùng Sinh mới hay Phùng Lập Ngôn đã mất, gia sản không còn. Người bõ già đưa Phùng Sinh về quê đoàn tụ. Phùng vì quen phóng lãng nên lại cùng người lái buôn là Đỗ Tam bê tha lêu lổng. Đỗ ham Sinh có vợ đẹp nên thường lấy lợi nhử Sinh. Nhị Khanh khuyên răn Phùng Sinh cũng không được).

Một hôm, Sinh cùng các bè bạn họp nhau đánh tử sắc. Đổ bỏ ra trăm vạn đồng tiền để đánh và đòi Sinh đánh băng Nhị Khanh. Trọng Quỳ quen mui vẫn được luôn, chẳng suy nghĩ gì, liền bằng lòng cách ấy. Giấy giao kèo viết xong rồi vừa uống rượu vừa gieo quân. Trọng Quỳ gieo ba lần đều thua cả ba, sắc mặt tái mét; cử toạ cũng đều n ngác buồn rầu hộ.

Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng:

– Tôi vì nỗi nghèo nó bó buộc, để luỵ đến nàng. Việc đã đến thế này, hối lại cũng không kịp nữa. Thôi thì bi hoan tản tụ cũng là việc thường của người ta. Nàng nên tạm về với người mới, khéo chiều chuộng hẳn, rồi bất nhật tôi sẽ đem tiền đến chuộc.

Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng:

– Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đâu từ chối. Số giời xếp đặt, hả chẳng là tiền định hay sao! Nếu chồng mới không nỡ rẻ bỏ, còn đoái thu đến cái dung nhan tàn tạ này, thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ như đã đối với chàng xưa nay. Nhưng xin cho uống một chén rượu, mượn làm một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con một chút.

Đỗ cả mừng, rót đầy một chén rượu xà cừ đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng về nhà ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà bảo rằng:

– Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt li là việc thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì. Nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thôi:

Nói xong, lấy đoạn dây tơ thắt cổ mà chết.

(Lược một đoạn: Sau khi vợ chết, Trọng Quỳ hối hận vô cùng. Một hôm, đi đường xa, ngủ dưới gốc cây thì được Nhị Khanh báo mộng, hẹn gặp ở đền Trưng Vương. Trọng Quỳ đúng hẹn đến trước đền, đợi từ chiều tà đến quá nửa đêm thì Nhị Khanh xuất hiện, báo tin cho Trọng Quỳ).

Khi nói đến việc hiện thời, Nhị Khanh chau mày:

– Thiếp thường theo chầu tả hữu Đức Bà ở đây, được trộm nghe chư tiên nói chuyện với nhau, bảo Hồ triều sẽ hết vào năm Bính Tuất, binh cách nổi lớn, số người bị giết chóc đến chừng hơn 20 vạn, ấy là chưa kể số bị bắt cướp đi. Nếu không phải người trồng cây đức đã sâu e ngọc đá đều bị cháy cả. Bấy giờ có một vị chân nhân họ Lê, từ miền tây nam xuất hiện; chàng nên khuyên hai con bền chỉ đi theo vị ấy, thiếp dù chết cũng không nát.

Trời gần sáng, Nhị Khanh vội dậy để cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại, rồi thoắt chốc thì biến đi mất.

Trọng Quỳ bèn không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu.

(Trích Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Chỉ ra và nêu vai trò của 2 yếu tố kì ảo trong truyện.

Câu 2. Chủ đề chính của câu chuyện là gì?

Câu 3. Chuyển phần dẫn trực tiếp thành phần dẫn gián tiếp:

Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng:

– Tôi vì nỗi nghèo nó bó buộc, để luỵ đến nàng. Việc đã đến thế này, hối lại cũng không kịp nữa.

Câu 4. Cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa Nhị Khanh và Trọng Quỳ tại đền Trưng Vương có ý nghĩa gì?

Câu 5. Vì sao Nhị Khnah lại chọn cái chết?

Câu 5. Qua câu chuyện Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, em có nhận xét về nhân vật Nhị Khanh?


Đ BÀI 2: NGƯỜI LIỆT NỮ Ở AN ẤP

Đọc văn bản dưới đây:

NGƯỜI LIỆT NỮ Ở AN ẤP

(Lược trích một phần: Thời Lê đời niên hiệu Vĩnh Thịnh có vị Tiến sĩ trẻ tên Đinh Hoàn, người làng An Ấp, tỉnh Nghệ An. Đinh Hoàn lấy vợ lẽ là con quan họ Nguyễn, bà nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang, thêu thùa khéo léo lại có tài thơ phú nên rất tâm đầu ý hợp với chồng. Có người vợ khuyên nhủ, người chồng càng mẫn cán và trở thành vị quan cần mẫn. Ông được cử đi sứ Trung Quốc, người vợ rất lo lắng cho sức khoẻ của chồng. Nhưng việc triều đình, ông vẫn phải dứt áo rời đi. Người vợ ở nhà thương nhớ, lo lắng khôn nguôi. Trên đường đi xứ, chẳng may ông mắc bệnh và qua đời. Linh cữu được đưa về nước, phu nhân họ Nguyễn đau đớn, viết bài văn tế chồng, trong đó ẩn ý muốn quyên sinh. Người nhà lo lắng khuyên can không được nên trông chừng bà rất cẩn thận. Thời gian trôi qua, phu nhân vẫn sống trong đau khổ, một hôm nằm mộng gặp được người chồng)

Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình… Nỗi thương tâm khiến phu nhân đờ đẫn, nhìn đâu cũng toàn thấy cảm sầu. Phu nhân càng thêm thê thảm, gục xuống bàn mà nức nở khiến cõi lòng chìm sâu vào cõi mê. Trong cơn dật dờ đó, thấy một người khăn vuông đai rộng từ xa đến gần, nhìn kĩ hóa ra chính là chồng vậy. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt mà rằng:

– Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bi sầu, mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm tung tích của lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp. Nếu bảo rằng trần gian và thiên thượng hai nơi cách biệt, thì sao Thuấn Phi có hội ngộ, Chức Nữ lại tương phùng, vậy thì lang quân đối với thiếp rất là bạc tình!

Ông buồn nét mặt mà rằng:

– Ta từ khi về chầu thiên đình, được trông coi việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung không bao giờ thay đổi.

Phu nhân muốn lưu ông ở lại tự tình. Ông vỗ về nói:

– Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vĩ Ngọc Tiên có duyên tái hợp, Dương Thái Chân cơ ước lai sinh. Nàng không cần bị phiền vì nỗi hạc lánh gương ta, cái ngày chúng ta gặp nhau gần đến rồi.

Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu mất. Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy, sai thị nữ ra xem trời đất chi thấy sương mù trăng mờ, đêm đã gần sáng rồi.

(Lược trích một đoạn: Sau đó, nhân một ngày cả nhà đi vắng, phu nhân đã quyên sinh. Bà được triều đình cho lập đền thờ, khắc chữ “Trinh liệt phu nhân từ”. Đền rất linh thiêng. Vài năm sau, có người thư sinh họ Hà hay thơ phú, ghé thăm đền và đề bài thơ. Bài thơ ngụ ý nói viên quan họ Đinh không có công trạng, nhờ người vợ thuỷ chung mà được thơm lây. Tối đó, khi về chỗ trọ, Hà sinh thấy có người con gái áo xanh đến báo có phu nhân mời tới trò chuyện. Đến một lầu son gác tía, Hà sinh mới hay phu nhân đó là chủ nhân ngôi đền. Phu nhân nói bài thơ của Hà sinh đề trên đền có ý chưa được đúng, xem thường tướng công của bà, nên kể rõ sự tình để Hà sinh thấu tỏ công đức của người chồng)

Hà sinh nghe phu nhân nói xong, bỗng tỉnh ngộ, vội vàng đứng dậy tạ rằng:

– Tiểu sinh ham chơi sơn thuỷ, thích hứng rượu thơ, nhân lúc say sưa phóng bút viết bậy, thực sự biết đắc tội rất nặng với bậc tôn linh, nay tình nguyện nối lại nguyên văn để chuộc cái lỗi nói càn.

Phu nhân nói:

– Bằng lòng cho họa lại.

Mới viết xong hai câu, chợt nghe tiếng người con gái mặc áo vàng đứng ngoài điện bẩm rằng:

– Thượng đế có chiếu chỉ với phu nhân, hiện xe loan đã sắp sẵn đợi ở ngoài rồi.

Phu nhân đi rảo bước xuống thềm, ngoảnh lại bảo Hà sinh:

– Tiên sinh sau này phát đạt. Nhưng phải cẩn thận lời nói…

Hà sinh đứng dậy vâng lệnh lui ra, bỗng thấy mây lành bao phủ, gió thoang thoảng, phu nhân bước lên xe loan đi như bay…

(Theo Đoàn Thị Điểm, Truyền kì tân phả, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục tr.344-362)

Câu 1. Chuyển phần dẫn trực tiếp thành phần dẫn gián tiếp:

Ông buồn nét mặt mà rằng:

– Ta từ khi về chầu thiên đình, được trông coi việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung không bao giờ thay đổi.

Câu 2. Nhân vật phu nhân họ Nguyễn trong truyện được miêu tả là người như thế nào?

Câu 3. Chi tiết: “Linh cữu được đưa về nước, phu nhân họ Nguyễn đau đớn, viết bài văn tế chồng, trong đó ẩn ý muốn quyên sinh” thể hiện phẩm chất gì của nhân vật?

Câu 4. Liệt kê và nêu vai trò của các yếu tố kì ảo trong truyện.

Câu 5. Từ văn bản Người liệt nữ ở An Ấp, em có suy nghĩ gì về nhân vật phu nhân họ Nguyễn?


ĐỀ BÀI 3: CHUYỆN GÃ TRÀ ĐỒNG GIÁNG SINH

Đọc văn bản sau:

CHUYỆN GÃ TRÀ ĐỒNG GIÁNG SINH

Dương Đức Công tên là Tạc, người phủ Thường Tín xứ Sơn Nam. Dưới triều vua Huệ Tông nhà Lý, ông làm quan coi việc hình án trấn Tuyên Quang xét rõ mọi điều oan khuất, khiến các vụ án đều được công bằng. Vì sự nhân từ phúc hậu, người thời bấy giờ gọi là Đức công. Năm 50 tuổi, Đức công vẫn không có con trai, chợt bị ốm nặng rồi chết, hồi lâu lại tỉnh bảo với mọi người rằng:

– Ta vừa đến một chỗ thành đèn vách sắt, toan bước chân vào thì có một viên chức ngăn lại. Viên ấy dẫn ta đi sang phía hữu, thấy có những cửa đỏ biển son. Vén áo đi vào cửa này thì thấy san sát những tòa rộng dẫy dài, có đến hơn trăm người thắt đai đứng hầu sau trước.

Giữa có hai vị mặc áo bào tía ngồi đối diện nhau ở bên một cái án, đưa mắt cho viên chức kia bảo lấy sổ son của họ Dương ra xem, một lát hai vị cùng nhìn nhau bảo rằng:

– Dương gian thật không có người nào được thế, cứu sống cho mọi người nhiều lắm. Chỉ tiếc hưởng tuổi không dài và dòng sau không người nối dõi. Người như thế mà không biểu dương thì làm sao khuyến khích cho kẻ khác được; ta sẽ phải tâu lên Thượng đế.

Bèn truyền cho Đức công hẵng xuống tạm nghỉ ở cái hành lang phía đông. Chừng độ nửa ngày, hai vị ấy lại sai dẫn Đức công vào, bảo rằng:

– Nhà ngươi ngày thường vốn có tiếng là người lương thiện. Thượng đế khen ngợi, ban cho một người con trai tốt và cho sống lâu thêm hai kỷ nữa. Nên mau về đi mà cố gắng làm thêm điều âm đức, đừng bảo là trên cõi minh minh không biết gì đến.

Đoạn sai viên chức kia dẫn về. Khi ra khỏi cửa, Dương hỏi rằng:

– Chẳng hay đây là dinh tòa nào? Ai là chủ trương và coi giữ công việc gì?

Viên chức ấy nói:

– Đây là một tòa trong 24 tòa ở Phong Đô; phàm người mới chết đều phải qua cả. Người nào tên ghi ở sổ son, may ra còn có khi sống mà về được, chứ đã tên ghi sổ mực thì chẳng còn có mong gì. Nếu ông không phải là người xưa nay hết lòng làm việc thiện thì cũng khó bề thoát được.

Bèn cùng nhau chia tay từ biệt, rồi ông bừng tỉnh như một giấc chiêm bao.

Bà vợ cũng nói là đêm qua lúc cuối canh một, có ngôi sao nhỏ rơi vào lòng, lòng bỗng thấy rung động. Rồi bà có mang đủ ngày tháng sinh ra được một cậu con trai, đặt tên cho là Thiên Tích. Tính Thiên Tích thích uống trà lắm, thường tự ví mình như Lư Đồng Lục Vũ đời xưa. Song thiên tư lỗi lạc, học vấn rộng rãi, phàm sách vở văn chương cổ kim, không cái gì là không thông thuộc. Đức công mừng mà rằng:

– Thế là ta có dòng giống rồi!

Bèn chuyên đem những nghĩa lý chân chính dạy con. Sau đó 24 năm, ông mắc bệnh mà mất, Thiên Tích thương xót rất mực; xa gần ai nấy đều cảm động.

(Trích Truyện gã Trà đồng giáng sinh, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Hội nhà văn, 2020, tr.45 – 46)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Theo văn bản, Đức công là người như thế nào?

Câu 2. Vì sao hai vị mặc áo bào tía lại tâu chuyện của Đức công lên Thượng đế?

Câu 3. Theo em, việc Đức công được ban cho con trai và kéo dài tuổi thọ phản ánh quan niệm gì của dân gian về luật nhân – quả?

Câu 4. Tại sao tác giả dân gian lại xây dựng chi tiết Đức công gặp các vị quan ở cõi âm và được xem xét sổ thiện ác? Chi tiết đó có ý nghĩa gì đối với việc giáo dục con người?

Câu 5. Ý nghĩa của chi tiết: “Bà vợ cũng nói là đêm qua lúc cuối canh một, có ngôi sao nhỏ rơi vào lòng, lòng bỗng thấy rung động. Rồi bà có mang đủ ngày tháng sinh ra được một cậu con trai” Chi tiết này góp phần thể hiện thông điệp nào của truyện?

Câu 6. Qua việc Thiên Tích lớn lên thành người tài giỏi, hiếu thảo, câu chuyện muốn gửi gắm điều gì về giá trị của đức hạnh trong gia đình?

Câu 7. Tại sao dân gian đặc biệt đề cao tấm lòng lương thiện của Đức công, dù ông không phải người có chức tước lớn? Điều đó thể hiện quan niệm gì về chuẩn mực đạo đức trong xã hội xưa?

Câu 8. Từ câu chuyện trên, em rút ra được những bài học ý nghĩa gì cho bản thân?


ĐỀ BÀI 4. CHUYỆN LỆ NƯƠNG

Đọc văn bản sau:

CHUYỆN LỆ NƯƠNG

(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Thị Diễm là người một họ lớn ở huyện Đông Sơn em họ ngoại của Trần Khát Chân; cùng người đàn bà họ Lý quê ở huyện Cẩm Giàng, cùng mở ngôi hàng bán phấn đối cửa nhau tại bên ngoài thành Tây Đô . Xóm giềng gần gặn, tình nghĩa ngày một thân nhưng cả hai đều chưa con cái. Rồi đó, Nguyễn Thị quả sinh con gái đặt tên là Lệ Nương, Lý thị quả sinh con trai đặt tên là Phật Sinh. Hai trẻ đến khi trưởng thành đều ham nghề nghiên bút. Vì cớ hai bên cha mẹ thân mật, nên họ cùng đi lại với nhau suồng sã, thường cùng nhau xướng họa thơ từ. Tuy kỳ cưới xin chưa định, nhưng hai tình gắn bó, đã chẳng khác chi vợ chồng vậy. Vào năm Kỷ Mão (1399) đời Trần, xảy ra cái vạ Trần Khát Chân, Lệ Nương bị bắt vào trong cung, Phật Sinh rất là thất vọng. Gặp đêm trừ tịch gần hết canh năm, Sinh còn đương nằm ngủ, chợt nghe có tiếng ấm ới. Sinh vùng dậy đẩy cửa ra xem, thấy có hơn trăm chiếc kiệu hoa rậm rịch đi qua, và có một bức thư bằng lụa cài vào ngưỡng cửa, trong thư chính là bút tích của Lệ Nương đã viết. […] Sinh được thư rất là đau thương, bỏ cả ăn ngủ. Rồi vì cớ hôn sự đã hỏng, bèn thiên ra ở ngoài miền đông. Nhưng nặng tình với Lệ Nương, Sinh chưa nỡ lấy ai cả.)

Cuối đời nhà Hồ, tướng Minh là Trương Phụ chia binh vào cướp, lấn chiếm Kinh kỳ. Sinh nghe Hán Thương phải chạy, đoán chắc là Lệ Nương cũng phải đi theo, bèn từ biệt mẹ đi vào Nam, mong được gặp mặt. Lặn lội hàng tuần mới đến cửa bể Thần Phù, nghe tướng giặc Lã Nghị bắt cướp mấy trăm phụ nữ hiện đóng giữ ở phủ Thiên Trường trơ trọi không có quân ứng viện, Sinh đoán chắc Lệ Nương cũng ở trong ấy. Nhưng đất khách tay không, chẳng làm gì được. Chợt gặp khi vua Giản Định nổi quân lên ở châu Trường An, nhưng vì ít binh không địch nổi với số nhiều của quân giặc, muốn lui về Nghệ An. Sinh muốn nhờ thế quân của vua, đánh úp mà cướp lại Lệ Nương, bèn đến trước ngựa dâng một bài sách […]

Sinh đã dâng bài sách đó lên vua, vua Giản Định xem mà khen là người giỏi, cấp cho năm trăm quân, sai đi đánh phủ Thiên Trường. Sinh khảng khái thề cùng quân sĩ, dụ bảo họ về sự hưng phục nghiệp Trần, ai nấy đều hăng hái, hăm hở. Sinh cùng nghĩa quân đã chiến thắng. Sinh đã gặp một bà cụ và biết về cái chết của Lệ Nương. Bà cụ đã đưa Sinh đến ngôi mộ.

Sinh đau thương vô hạn. Đêm hôm ấy chàng ngủ ở mộ, khóc mà nói rằng:

– Ta vì nàng mà từ xa đến đây, nàng có thể cùng ta gặp gỡ trong giấc chiêm bao để cho ta một lời yên ủi hay không?

[…]

Vợ chồng bèn cùng nhau âu yếm chuyện trò, y như lúc sống. Sinh nói:

– Nàng đã không may, vậy anh đem linh thần về, khỏi uổng một chuyến đi không lại trở về rồi.

Nàng nói:

– Thiếp rất cảm tấm thâm tình ấy. Song thiếp cùng hai vị mỹ nhân gần gụi lâu ngày, giao tình thân mật, không nỡ một sớm bỏ đi. Phương chi chốn này nước non trong sáng, mây khói vật vờ, thần yên phách yên, bất tất phiền chàng dời đổi nữa.

 Sau khi gà gáy ba hồi, hai người vội cùng nhau đứng dậy từ biệt. Ngày hôm sau, Sinh đem mấy lạng bạc, mua quan tài và nước thơm, cải táng cho nàng và cả hai mỹ nhân. Đêm sau mộng thấy ba người đến tạ ơn, chàng đương toan lại cùng trò chuyện thì thoắt chốc cả ba đều biến mất.

Chàng buồn rầu quay về, từ đấy không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện Lệ Nương, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997,  tr 259 – 260)

Thực hiện yêu cầu:

Câu 1. Xác định thể loại văn bản trên. Căn cứ vào đặc điểm/dấu hiệu nào em xác định như vậy?

Câu 2. Chuyển lời dẫn trực tiếp thành phần dẫn gián tiếp:

Sinh đau thương vô hạn. Đêm hôm ấy chàng ngủ ở mộ, khóc mà nói rằng:

– Ta vì nàng mà từ xa đến đây, nàng có thể cùng ta gặp gỡ trong giấc chiêm bao để cho ta một lời yên ủi hay không?

Câu 3. Phật Sinh đã làm gì để tìm lại Lệ Nương sau khi đất nước rơi vào tay giặc Minh?

Câu 4. Việc Lệ Nương xuất hiện trong giấc mộng và trò chuyện với Phật Sinh cho thấy tình cảm của nàng đối với chàng như thế nào?

Câu 5. Phân tích ý nghĩa của giấc mơ Phật Sinh gặp lại Lệ Nương. Yếu tố kì ảo này có vai trò gì trong câu chuyện?

Câu 6. Theo em, câu chuyện “Chuyện Lệ Nương” gửi đến người đọc thông điệp gì?


ĐỀ BÀI 5: CHUYỆN TÌNH Ở THANH TRÌ

Đọc văn bản sau:

CHUYỆN TÌNH Ở THANH TRÌ

Nguyễn Sinh, người Thanh Trì, diện mạo tuấn tú, phong thái đường hoàng, mồ côi cha từ sớm. Thuở nhỏ, Sinh có đi học nhưng vì nhà nghèo, không được học đến nơi đến chốn. Cạnh làng có dòng sông nhỏ, nhà Sinh vốn làm nghề chèo thuyền nên Sinh cũng theo nghề. Khi nhàn rỗi, Sinh tập hát các bài ca chèo thuyền. Mỗi khi chàng cất lời ca, ai nghe cũng phải ngất ngây.

Bên bờ sông là nhà phú ông họ Trần, có một cô con gái chưa chồng. Nghe Sinh hát nàng rất ưa, thường ngồi tựa cửa sổ liếc nhìn và thầm yêu chàng. Nàng nhờ con hầu đem khăn tặng Sinh, và dặn nó bảo Sinh nhờ người mai mối. Sinh về nhà bàn với mẹ. Mẹ bảo:

– Người ta giàu, nhà mình nghèo. Giàu nghèo cách biệt. Con làm sao mơ tưởng được đảm ấy.

Sinh thưa:

– Đấy là ý nguyện của cô gái!

Rồi ép mẹ đi hỏi. Bà mẹ bất đắc dĩ, phải đem lễ vật nhờ bà hàng xóm đến thưa chuyện trước với ông Trần. Ông Trần không nhận lời. Bà hàng xóm lại cố nài xin, lại hết lời ca ngợi Sinh đẹp trai, đứng đắn. Ông Trần tái mặt, nổi giận nói:

– Có phải là thằng lái đò hát xưởng không? Nó tài giỏi, đẹp trai, tôi biết cả rồi. Nhưng con gái tôi xấu xí, thô lậu, không xứng đôi phải lứa được với nó đâu. Xin phiền bà từ chối giúp cho.

Bà hàng xóm vừa ra khỏi cửa mấy bước, đã nghe ông nói lớn:

– Cửa nhà như thế này, con gái yêu kiều như thế này, mà lại có thằng rể lái đò à? Mụ ăn mày này thật ngu hết chỗ nói!

Bà mối trở về, kể lại những lời của ông Trần. Mẹ Sinh vừa xấu hổ, vừa tức giận, mắng Sinh. Sinh cũng phẫn uất nói:

– Ông già ấy làm nhục người ta quả lắm, chẳng qua cậy có nhiều tiền bạc thôi. Ta thử bỏ nghề chèo thuyền xem có làm giàu được không!

Rồi Sinh từ biệt mẹ ra đi. […]

Cô gái nghe tin Sinh phẫn chí bỏ đi, không biết là đi đâu, trong lòng âm thầm thương xót. Mỗi khi không có ai, nàng lại nhìn bóng mình mà nuốt lệ. Dần dà, nàng sinh bệnh chân tay rời rã, vóc dáng gầy mòn, trong ngực kết thành một khối rắn như đá, chữa chạy thế nào cũng không khỏi. Cứ như vậy đến hơn một năm thì nàng qua đời. Trước khi mất, nàng dặn lại:

– Trong ngực con chắc có vật gì lạ. Sau khi con mất, xin hoả tảng để xem đó là vật gì.

Ông Trần làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm tro xương, sót lại một vật to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc, cũng chẳng phải là đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn bên trong thì có bóng con đò, trên đó có một chàng trai đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Ông nhớ lại chuyện ngày trước mới hay con gái mình đã chết vì chàng lái đò, hối hận cũng muộn rồi. Ông bèn đóng chiếc hộp con, đặt khối đá vào trong, để lên bàn thờ.

Sinh bỏ nhà, một thân trơ trọi lên đất Cao Bằng. Vài năm sau, Sinh tích góp được hơn ba trăm lạng vàng và nghĩ số vàng này đủ dùng vào việc vui nên sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, được biết mọi chuyện về cái chết của cô gái, Sinh đau xót tuyệt vọng, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Làm lễ xong, Sinh xin xem cục đá cất giữ trong hộp. Ông Trần mở hộp lấy ra đưa Sinh. Chàng nâng niu cầm lấy, xúc động khóc rống lên, nước mắt nhỏ xuống khối đá. Bỗng nhiên, khối đá tan chảy đầm địa thành máu tươi, ướt đẫm ống tay chàng. Sinh xúc động trước mối tình của cô gái, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Vũ Trinh, in trong Lan Trì kiến văn lục, NXB Hồng Bàng, 2013)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Chỉ ra hai chi tiết kì ảo xuất hiện trong đoạn trích. Nêu vai trò của chi tiết kì ảo trong việc thể hiện nội dung, chủ đề văn bản.

Câu 2. Điều gì khiến cô gái họ Trần đem lòng yêu Nguyễn Sinh?

Câu 3. Vì sao ông Trần từ chối lời của bà mối?

Câu 4. Trình bày suy nghĩ của em về hình ảnh khối đá được miêu tả trong đoạn văn: Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm tro xương, sót lại một vật to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc, cũng chẳng phải là đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn bên trong thì có bóng con đò, trên đó có một chàng trai đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát.

Câu 5. Từ câu chuyện tình ở Thanh Trì, em có suy nghĩ gì về khát vọng tình yêu thời phong kiến?


ĐỀ BÀI 6: PHẠM TỬ HƯ LÊN CHƠI THIÊN TÀO

Đọc văn bản sau:

PHẠM TỬ HƯ LÊN CHƠI THIÊN TÀO

Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt. Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ; đời Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nhà dân bên bờ hồ Tây.

Một buổi sáng, ở nhà trọ đi ra, trong áng sương mù thấy có một đám những tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không; kế lại có một cỗ xe nạm hạt châu, kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dòm trộm xem thì người ngồi trong xe, chính thầy học mình là Dương Trạm. Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói:

– Giữa đường không phải chỗ nói chuyện, tối mai nên đến đền Trấn Vũ cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên.

Tử Hư bèn sắm rượu và thức nhắm, đúng hẹn mà đến. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lắm, chàng nhân hỏi rằng:

– Thầy mới từ trần chưa bao lâu, thoắt đã trở nên hiển hách khác hẳn ngày trước, xin thầy cho biết rõ duyên do để con được vui mừng.

Dương Trạm nói:

– Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen, chỉ có hay giữ điều tín thực đối với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi. Đức Đế quân đây ngài khen là có bụng tốt tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng. Hôm qua ta hầu lính giá ngài lên chầu Thiên cung, tình cờ lại gặp nhà ngươi, đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên…

(Trích truyện Phạm Tử Hử lên chơi Thiên Tào, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trẻ, 2016, Tr.142)

Câu 1: Nêu hai chi tiết cho thấy Phạm Tử Hư là người có lòng biết ơn và kính trọng thầy.

Câu 2: Theo đoạn trích, tính cách nào của Tử Hư được Dương Trạm răn đe và sửa đổi?

Câu 3: Điều gì khiến Dương Trạm được Đức Đế quân khen là có bụng tốt và tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng?

Câu 4: Nêu vai trò của chi tiết kì ảo được sử dụng trong đoạn trích?

Câu 5. Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta?


ĐỀ BÀI 7: TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN

Đọc văn bản sau:

TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN

(Tóm tắt phần đầu: Từ Thức làm quan Tri huyện Tiên Du, nhân một buổi xem hội hoa mẫu đơn mà cứu giúp một người con gái đẹp. Vì tính ham thơ mến cảnh nên chàng đã từ quan mà chọn sống chốn nước biếc non xanh. Một hôm Từ Thức mải vãn cảnh mà lạc vào động tiên, gặp lại người con gái mà chàng đã cứu hôm đi hội, mới biết hóa ra cô gái đó chính là nàng tiên Giáng Hương, con của bà tiên cai quản vùng núi Phù Lai, động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biển cả. Để báo đáp ơn cứu mạng trước kia, phu nhân đã tác hợp cho Từ Thức và Giáng Hương nên duyên vợ chồng trong sự chúc phúc của quần tiên).

Nhưng từ khi chàng bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm sương sa gió thổi, bóng trăng sáng nhòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương nam, Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:

– Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.

Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:

– Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?

Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:

– Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chỗ làng mây bến nước.

Giáng Hương khóc mà nói:

– Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về, nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.

Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:

– Không ngờ chàng lại thắc mắc vì mối lòng trần như vậy.

Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:

– Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình cũ kĩ..

Rồi trào nước mắt mà chia biệt.

Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thủa nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:

– Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi.

Chàng bấy giờ mới buồn bực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: “Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên biển, dịp khác còn đâu!” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.

(Trích Từ Thức lấy vợ tiên, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997,  tr 259 – 260)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Chỉ ra đặc điểm không gianthời gian nghệ thuật trong đoạn trích trên.

Câu 2. Xác định phần dẫn trực tiếp trong câu văn và chuyển thành lời dẫn gián tiếp:

Mở thư ra đọc, thấy có câu: “Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên biển, dịp khác còn đâu!” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt.

Câu 3. Theo đoạn trích, nhân vật Từ Thức được giới thiệu là người có tính cách như thế nào?

Câu 4. Chỉ ra những hình ảnh, chi tiết thể hiện nỗi nhớ quê nhà của Từ Thức?

Câu 4. Theo em, lời của Giáng Hương nói với Từ Thức: “Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về, nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa” ngầm báo trước điều gì?

Câu 5. Từ ý nghĩa văn bản, em hãy rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất và lí giải.

Câu 6. Nếu em là Từ Thức, em có quyết định trở về trần gian như chàng không? Tại sao? Hãy liên hệ với khát vọng tự do và sự gắn bó với quê hương của bản thân?


ĐỀ BÀI 8: CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN

Đọc văn bản sau:

CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN

Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được, vùng Bắc người ta vẫn khen là một người cương trực. Trong làng trước có một ngôi đền linh ứng lắm. Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang lấn cướp, vùng ấy thành một nơi chiến trường. Bộ tướng của Mộc Thạnh có viên Bách hộ họ Thôi, tử trận ở gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong dân gian. Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời, rồi châm lửa đốt đền. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ thay cho Tử Văn, nhưng chàng vẫn vung tay không cần gì cả.

Đốt đền xong, chàng về nhà, thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một cơn sốt nóng sốt rét. Trong khi sốt, chàng thấy một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ đi đến, nói năng và quần áo rất giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ, đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ và nói:

– Nhà ngươi đã theo nghiệp nho, đọc sách vở của thánh hiền, há không biết cái đức của quỷ thần sao, cớ gì lại dám khinh nhờn hủy tượng, đốt đền, khiến cho hương lửa không có chỗ tựa nương, oai linh không có nơi hiển hiện, vậy bảo làm sao bây giờ? Biết điều thì dựng trả ngôi đền như cũ. Nếu không thì, vô cớ hủy đền Lư Sơn, Cố Thiệu sẽ khó lòng tránh khỏi tai vạ.

Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên.  Phong đô không xa xôi gì, ta tuy hèn, há lại không đem nổi nhà ngươi đến đấy. Không nghe lời ta thì rồi sẽ biết.

Nói rồi phất áo đi.

Chiều tối, lại có một ông già, áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã, thủng thỉnh đi vào đến trước thềm, vái chào mà rằng:

– Tôi là Thổ công ở đây, nghe thấy việc làm rất thú của nhà thầy, vậy xin đến để tỏ lời mừng.

Tử Văn ngạc nhiên nói:

– Thế người đội mũ trụ đến đây ban nãy, chẳng phải là Thổ công đấy ư? Sao mà nhiều thần quá vậy?

Ông già nói:

– Ô, đấy là viên tướng bại trận của Bắc triều, cái hồn bơ vơ ở Nam quốc, tranh chiếm miếu đền của tôi, giả mạo họ tên của tôi, quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược, Thượng Đế bị nó bưng bít, hạ dân bị nó quấy rầy, phàm những việc hưng yêu tác quái đều tự nó cả, chứ có phải tôi đâu. […]”.

Tử Văn nói:

– Việc xảy ra đến như thê, sao ngài không kiện ở Diêm Vương và tâu lên Thượng Đế, lại đi khinh bỏ chức vị, làm một người áo vải nhà quê?

Ông già chau mặt nói:

– Rễ ác mọc lan, khó lòng lay động. Tôi đã định thưa kiện, nhưng mà có nhiều nỗi ngăn trở: Những đền miếu gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả. Tôi chỉ giữ được một chút lòng thành, nhưng không làm thế nào để thông đạt được lên, cho nên đành tạm ẩn nhẫn mà ngồi xó một nơi.

(Trích Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ, Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục, 2009)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Nhân vật chính trong đoạn trích trên là ai?

Câu 2. Nguyên nhân nào khiến Tử Văn châm lửa đốt đền?

Câu 3. Vì sao dân làng lo sợ khi Tử Văn đốt đền?

Câu 4. Hành động Tử Văn đốt đền cho thấy chàng là người có tính cách như thế nào?

Câu 5. Chi tiết Ngô Tử Văn “tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi mới đốt đền” thể hiện điều gì trong tính cách nhân vật?

Câu 6. Qua lời kể của Thổ công, em hãy chỉ ra bản chất của tên tướng giặc họ Thôi.

Câu 7. Thái độ của Tử Văn khi đối mặt với lời đe dọa của tên tướng giặc họ Thôi cho thấy phẩm chất gì của người trí thức thời xưa?

Câu 8. Qua lời kể của Thổ công về việc “rễ ác mọc lan, khó lòng lay động”, em hiểu gì về tình hình xã hội đương thời và nỗi khó khăn của những người chính trực?

Câu 9. Nhận xét về vai trò của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.


ĐỀ SỐ 9: CHUYỆN TƯỚNG DẠ XOA

Đọc văn bản sau:

CHUYỆN TƯỚNG DẠ XOA

Kẻ kỳ sĩ ở hạt Quốc Oai, họ Văn tên là Dĩ Thành (1) tính tình hào hiệp, không chịu để ma quỷ mê hoặc. Phàm những hoa yêu nguyệt quái, và dân thần lệ quỷ không được liệt vào tự điển, chàng đều coi thường không sợ hãi gì. Cuối đời Trùng Quang nhà Trần, (2) người chết chóc nhiều, những oan hồn không chỗ tựa nương, thường họp lại thành từng đàn lũ, hoặc gõ cửa hàng cơm để kiếm miếng ăn, hoặc đón cô gái chơi để kết duyên tạm, ai va chạm thì bệnh nguy khốn, ai cầu cúng thì thấy hết phép hay, hoành hành ở đồng nội không biết kiêng sợ gì cả. Dĩ Thành nhân lúc say rượu, cưỡi ngựa đi đến, bọn ma quỷ sợ hãi, đều tan chạy cả.

(Lược một đoạn: Dĩ Thành dùng lời lẽ thu phục chúng quỷ. Chúng cho ông biết vì muốn thêm quân nên gieo rắc tai hoạ cho người dân. Hơn nữa, ỏ Âm Ty xương gò rầu rĩ cỏ rêu và không ai cấm cản nên chúng kết thành bè cánh để xoay xở miếng ăn. Bằng lời nói thấu tình đạt lí cũng như hành động phi phàm” ăn như mưa như gió” trong bữa tiệc, Dĩ Thành đã thu phục được chúng quỷ. Lũ quỷ muốn Dĩ Thành dù ở dương gian nhưng cũng có thể làm thủ lĩnh của chúng)

Dĩ Thành nói:

– Nếu bất đắc dĩ dùng đến ta, ta có sáu điều làm việc, các người phải thề mà tuân theo mới được.

Chúng đều vâng dạ, nhân xin đến đêm thứ ba tới chỗ đó lập đàn. Đến kỳ, chúng quỷ đều lại họp. Có một tên quỷ già đến sau, Sinh sai đem chém, ai nấy đều run sợ. Sinh bèn ra lệnh rằng:

– Các ngươi không được coi khinh mệnh lệnh, không được quen thói dâm ô, không quấy quắc để làm hại mạng của dân, không cướp bóc và phải cứu nạn cho dân, ban ngày không được giả hình, ban đêm không được kết đảng. Nghe mệnh ta thì ta làm tướng các ngươi, trái lệnh ta thì ta trị tội các ngươi. Nghe rõ lời ta, đừng để hậu hối.

Đó rồi bèn chia bọn chúng ra từng bộ, từng tốt bảo phàm có điều gì hay dở, phải đến bẩm trình.

Như vậy được hơn một tháng, một hôm đương lúc ngồi nhàn, Dĩ Thành thấy một người tự xưng là sứ giả của Minh Ty, đến xin mời chàng đi. Dĩ Thành toan lảng tránh, thì người ấy nói:

– Đó là mệnh lệnh của đức Diêm vương. Vì ngài thấy ông là người cương nghị, định đem phẩm trật tặng cho, chứ không làm gì phiền ông đâu, đừng nên từ chối. Có điều là xin để cho ông được rộng kỳ hạn, ông sẽ tự đến, tôi đợi ông ở dọc đường.

(Lược một đoạn: Sau khi nói chuyện với Sử giả Minh Ty, Dĩ Thành gọi chúng quỷ lên để hỏi chuyện và được biết Diêm Vương thấy “buổi đời không yên” nên đã đặt ra bốn bộ Dạ Xoa, mỗi bộ cử một tướng cai quản. Dưới Diêm La, tuyển tướng cũng nghiêm ngặt, phải là người tài đức lừng danh và được chúng quỷ nể phục tiến cử. Sau khi chúng quỷ thuyết phục và suy nghĩ về lẽ sống chết trong cõi đời, Dĩ Thành trang xếp việc nhà rồi chết.)

Bấy giờ có người làng là Lê Ngộ, cùng Dĩ Thành vốn chỗ chơi thân, phiêu bạt ở vùng Quế Dương (3), ngụ trong một nhà trọ. Một hôm chừng quá canh một, Lê Ngộ thấy một người cưỡi ngựa thanh song, kẻ hầu đầy tớ rộn rịp, đến xin vào yết kiến. Chủ trọ vén mành ra đón. Lê Ngộ rất lấy làm lạ là tiếng nói của khách giống tiếng Dĩ Thành, nhưng trông mặt thì hơi khác, Lê Ngộ toan ra cửa để tránh thì khách nói:

– Cố nhân biết ông, ông lại không biết cố nhân là làm sao?

Nhân kể quê quán họ tên và nói mình đã lĩnh chức quan to ở dưới âm phủ, vì có tình cũ với Lê Ngộ nên tìm đến thăm.

(Lược đoạn cuối: Sau khi chết và nhận chức Tướng ở Minh Ty, Dĩ Thành đến thăm Lê Ngộ và báo cho Lê Ngộ biết về đại nạn của gia đình. Không chỉ vậy, Dĩ Thành còn giúp gia đình Lê Ngộ vượt qua đại nạn. Lê cảm ơn đức của Dĩ Thành bèn lập miếu ở nhà để thờ, mọi người đến xin đều ứng nghiệm.

Lời bình: Dĩ Thành – một người biết trân quý tình bạn quả là đáng trọng

(Trích Chuyện Tướng Dạ Xoa, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trẻ, 2016)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Câu chuyện Chuyện tướng Dạ Xoa được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. Ở đầu truyện, Dĩ Thành được giới thiệu là người như thế nào?

Câu 3. Vì sao bọn ma quỷ thường tụ tập, quấy nhiễu dân gian vào cuối đời Trần? Hoàn cảnh đó phản ánh điều gì về xã hội đương thời?

Câu 4. Thái độ “sợ hãi” và hành động “chạy tán loạn”của chúng quỷ khi Dĩ Thành đến thể hiện điều gì?

Câu 5. Chi tiết Dĩ Thành dùng lời lẽ thấu tình đạt lí và hành động phi phàm để thu phục lũ quỷ có ý nghĩa gì trong việc khắc họa hình tượng nhân vật?

Câu 6. Những điều lệnh mà Dĩ Thành đặt ra cho bọn quỷ cho thấy chàng là người như thế nào? Qua đó, tác giả muốn đề cao phẩm chất gì của con người?

Câu 7. Việc Dĩ Thành được Diêm Vương triệu mời và phong làm tướng Dạ Xoa thể hiện quan niệm gì của tác giả về mối quan hệ giữa dương gian và âm phủ?

Câu 8. Qua toàn bộ câu chuyện, văn bản gửi gắm thông điệp gì về vai trò của người có tài đức trước cái ác và sự hỗn loạn trong xã hội?

Câu 9. Nhận xét về không gian nghệ thuật xuất hiện trong tác phẩm Chuyện tướng Dạ Xoa?


ĐỀ BÀI 10: CHUYỆN CÁI CHÙA HOANG Ở HUYỆN ĐÔNG TRIỀU

Đọc văn bản sau:

CHUYỆN CÁI CHÙA HOANG Ở HUYỆN ĐÔNG TRIỀU

Ðời nhà Trần, tục tin thần quỹ, thần từ phật tự chẳng đâu là không có, như chùa Hòang Giang, chùa Ðồng Cổ, chùa An Sinh, chùa Yên Tử, chùa Phổ Minh, quán Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi; những người cắt tóc làm tăng làm ni, nhiều hầu bằng nửa số dân thường. Nhất là vùng huyện Ðông Triều [1], sự sùng thượng lại càng quá lắm, chùa chiền dựng lên, làng lớn có đến hơn mười nơi, làng nhỏ cũng chừng năm, sáu, bao ngoài bằng rào lũy, tô trong bằng vàng son, phàm người đau ốm, chỉ tin theo ở sự hư vô; gặp các tuần tiết thì đàn tràng cúng vái rất là rộn rịp. Thần Phật xem chừng cũng ứng giáng, nên cầu gì được nấy, linh ứng lạ thường.

Bởi vậy, người dân càng kính tin, không dám ngạo mạn. Ðời vua Giản Ðịnh [2] nhà Trần, binh lửa luôn năm, nhiều nơi bị đốt; số chùa chiền còn lại, mười không được một, mà cái số còn lại ấy, cũng mưa bay gió chuyển, đổ ngã xiêu nghiêng, tiêu điều đứng rủ ở giữa đám cỏ hoang bụi rậm. Sau khi quân Ngô [3] lui, dân trở về phục nghiệp. Có viên quan là Văn Tư Lập đến trị huyện ấy, thấy những cảnh hoang tàn đổ nát, bèn róng rả dân đinh các xã, đánh tranh kên nứa mà sửa chửa lại ít nhiều. Ngồi ở huyện ấy một năm, thấy dân quanh huyện khổ về cái nạn trộm cắp, từ gà lợn ngỗng ngan đến cá trong ao, quả trong vườn, phàm cái gì ăn được đều bị mất hết, Tư Lập than rằng:

– Ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính là cái lỗi tự ta.

Song Tư Lập cho rằng những đám trộm cắp vặt ấy, cũng không đến nỗi là đáng lo ngại lắm, nên chỉ sức họ các thôn dân, đêm đêm họ vẫn asnh phòng cẩn mật. Trong khoảng một tuần, tuy canh phòng chẳng thấy gì cả, nhưng những việc trộm vặt cũng vẫn như trước. Lâu dần càng không thấy chúng kiêng sợ gì, đến nỗi lại vào bếp để khoắng hủ rượu của người ta, khi mọi người đổ đến vây bắt, thì kẻ gian đã biến đi đằng nào mất, chẳng thấy gì cả. Tư Lập cười mà nói:

– Té ra lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kỳ thực đó là lọai ma quỷ, hưng yêu ác quái đó mà thôi. Những sự quấy rối bấy nay, đề tự vật này cả.

Ðó rồi đi mời khắp các thầy phù thủy cao tay, xin bùa yểm trấn. Song càng bùa bèn trừ yểm, sự quấy quắc vẫn tệ hơn trước. Tư Lập cả sợ, họp người dân thôn lại bàn rằng:

– Các người khi trước vẫn thờ Phật rất là kính cẩn, lâu nay vì việc binh hỏa mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hòanh hòanh mà Phật không cứu giúp. Nay sao chẳng đến chùa kêu cầu với Phật, tưởng cũng là một cách quyền nghi, may có thể giúp ích cho mình.

Mọi ngưòi bèn đi đốt hương lễ bái ở chùa chiền khấn rằng:

– Lũ chúng sinh này kính thờ Trời Phật, quy y đã lâu, hết lòng trông cậy ở Phật pháp. Nay ma quỷ nổi lên, quấy nhiễu dân chúng, họa hại cả đến lòai lục súc, vậy mà Phật ngồi nhìn im lặng, chẳng cũng từ bi qúa lắm ư? Cúi xin mở lượng xót thương, ra uy trừng phạt, khiến thần, người chẳng lẫn, dân vật đều yên, sinh kế chưa khôi phục được, tấc gỗ mãnh ngói khó lòng xoay xở vào đâu. Ðợi khi làm ăn giàu có sẽ lại xin sửa lại chùa chiền đền công đức ấy.

Ðêm hôm ấy, trộm cắp hoành hành vẫn dữ hơn trước. Tư Lập chẳng biết làm sao được, nghe Vương Tiên sinh ở huyện Kim Thành [4] là người giỏi bói dịch, bèn đến bói một quẻ xem sao. Vương Tiên sinh bói rồi nói rằng:

Cưỡi trên ngựa tốt
Mặc áo vải săn
Túi da tên thiếc
Ðích thị người thần

Lại dặn rằng:

– Ông muốn trừ được nạn ấy, sáng ngày mai nên do phía tả cửa huyện đi về phương Nam, hễ thấy người nào vận mặc như thế, mang xách như vậy, quyết là người ấy có thể trừ hại được, nên cố thỉnh mời, dù từ chối cũng đừng nghe.

Hôm sau, Tư Lập cùng các phụ lão theo đúng lời của Vương Tiên sinh để trông ngóng xem, những kẻ đi người lại đầy đường, chẳng thấy ai giống như thế cả. Trời đã xế chiều, ai nấy chán nản sắp muốn về, chợt có một người từ trong núi đi ra, mình mặc áo vải, đeo cung cưỡi ngựa. Mọi người cùng chạy ra phục lạy ở phía trước mặt. Người ấy ngạc nhiên hỏi, mọi người cũng kể rõ bản ý của mình. Người ấy cười mà rằng:

– Các ông sao mà tin bói tóan đến thế!. Tôi từ nhỏ làm nghề săn bắn, mình không rời yên ngựa, tay không rời cung tên. Hôm qua nghe nói ở núi Yên Phụ [5] có nhiều giống nai béo, thỏ tốt nên nay định đến để săn, nào có biết lập đàn thầy pháp, bắn ma vô hình là công việc thế nào.

Tư Lập nghĩ bụng người này tất là một vị pháp đàn cao tay, vì không muốn nổi tiếng về thuật bùa bèn, sợ bị mang lụy vào thân, nên mới vào nhởn nhơ trong chốn núi khe, giấu mình ở thú chơi cung mã, bèn nhất định cố mời kỳ được. Người kia xem chừng không thể từ chối, phải gượng theo lời. Tư Lập mời người ấy về huyện để ở trong nhà quán xá, giường chiếu màn đệm rất sang trọng, săn sóc kính cẩn như một vị thần minh. Người ấy nghĩ riêng mình rằng:

– Họ tiếp đãi kính cẩn với ta như thế này, chỉ vì cho ta có tài trừ quỷ. Nhưng thực thì ta chẳng có tài gì về sự đó, thế mà đi hưởng sự cung cấp của người, sao cho đành tâm. Nếu không sớm liệu trốn đi thì có ngày phải xấu hổ.

Hôm ấy mới chừng nửa đêm, thừa lúc mọi người đã ngủ say, người ấy bèn rón rén bước ra khỏi huyện lị. Khi đến phía tây cái cầu ván, bấy giờ trời tối lờ mờ, trăng khuya chưa mọc, thấy có người hình thể to lớn, hớn hở từ dưới đồng đi lên, người ấy bèn lẫn vào chỗ khuất, ngồi rình để xem họ làm trò gì. Một lát, thấy họ thò tay khoắng xuớng một cái ao, rồi bất cứ vớ được cá lớn cá nhỏ, đều bỏ vào mồm nhai nuốt hết, lại nhìn nhau mà cười mà nói:

– Những con cá con ăn ngon lắm, nên ăn dè dặt mới thấy thú, há chẵng hơn những thức ăn nhạt nhẽo họ thường dâng cúng chúng mình ư? Ðáng tiếc là đến bây giờ, chúng mình mới được biết những vị ngon ấy.

Một người cười mà nói:

– Chúng mình to đầu mà dại, bấy nay bị chúng nó lừa dối, ai lại đem cái oản, một vài lẻ gạo để lấp cái bụng ngàn cân mà đi giữ cửa cho chúng nó bao giờ. Nếu không có những buổi như buổi hôm nay mà cứ trường chay mãi như trước thì thật là một đời sống uổng.

Một người nói:

– Tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn không phải ăn chay như các ông. Nhưng hiện giờ dân tình vẫn nghèo kiết, chúng nó chẳng có gì để cúng vái mình. Bụng đói miệng thèm, không biết mùi thịt là cái gì đẫ trãi một thời gian khá lâu lắm, chẳng khác gì chí đức Khổng Tử ở nước Tề ba tháng không được đụng đến miếng thịt. Song đêm nay trời rét nước lạnh, khó lòng ở lâu chỗ này được, chi bằng lên quách vườn mía mà bắt chước Hổ đầu tướng quân [6] ngày xưa.

Ðoạn rồi họ dắt nhau đi lên, vào vườn mía, ngồi nhổ trộm mà tước, mà hít. Người kia đang ngồi núp một chỗ, liền giương cung lấy cắp tên, thình lình bắn ra, tin luôn ngay được hai người. Bọn gian kêu ấm ớ mấy tiếng rồi ồ chạy cả, chừng được mấy chục bước, đều mờ khuất hết. Song lúc đó còn có thấy tiếng mắng nhau:

– Ðã bảo ngày giờ không tốt thì đừng nên đi. Không nghe lời ta bây giờ mới biết.

Người kia kêu réo ầm ĩ lên, dân làng quanh đấy giật mình tỉnh dậy, cùng đốt đèn thắp đuốc chia nhau mỗi người đi một ngả. Họ soi thấy dấu máu vấy trên mặt đất, bèn theo dấu đi về phía tây. chừng hơn nữa dặm đến một cái chùa hoang, vào thấy hai pho tượng Hộ pháp xiêu vẹo trong chùa, trên lưng mỗi tượng đều thấy một phát tên cắm vào sâu lắm. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, cho là một sự lạ xưa nay chưa có bao giờ. Họ liền hẩy đổ hai pho tượng.Trong lúc ấy còn nghe có tiếng nói rằng:

– Vẫn tưởng kiếm cho no bụng, ai ngờ phải đến nát thân. Nhưng bày ra mưu này là tự lão Thuỷ thần kia. Hắn là chủ mưu mà được khỏi nạn còn chúng ta theo hắn mà phải chịu vạ, thật cũng đáng phàn nàn lắm.

Đó rồi họ sai người đến miếu Thủy thần, thấy pho thần tượng đắp bằng đất, bỗng biến nét mặt, mặt tái đi như chàm đỗ, mấy cái vảy cá vẫn còn dính lèm nhèm trên mép. Bèn lại phá hủy luôn cả pho tượng ấy.

Quan huyện Văn Tư Lập dốc hết hòm rương để trả ơn người kia chở nặng mà về. Từ đấy yêu tà tuyệt tịch không còn thấy tăm bóng đâu nữa.

(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, NXB Hội Nhà văn, 2018)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Chỉ ra các nhân vật kì ảo trong truyện.

Câu 2. Vì sao quan huyện Văn Tư Lập cho rằng những vụ trộm cắp xảy ra trong dân gian không phải do người thường gây ra?

Câu 3. Những kẻ trộm cắp, quấy nhiễu cuộc sống của người dân ở Đông Triều thực chất là ai?

Câu 4. Nhân vật Văn Tư Lập đã làm những việc hữu ích nào cho dân chúng? Qua đó em thấy nhân vật Văn Tư Lập có những phẩm chất đáng quý nào?

Câu 5. Nhận xét thái độ của Nguyễn Dữ đối với tục mê tín dị đoan qua câu chuyện trên. Theo em, thái độ đó được thể hiện bằng những chi tiết nào tiêu biểu?

Câu 6. Từ câu chuyện chùa hoang ở huyện Đông Triều, văn bản gửi gắm thông điệp gì cho con người trong cách nhìn nhận và ứng xử với tín ngưỡng, niềm tin trong cuộc sống?


ĐỀ BÀI 11: ÔNG TIÊN ĂN MÀY

Đọc ngữ liệu sau:

ÔNG TIÊN ĂN MÀY

Nguyễn Ất là một người thôn nọ, không nhớ ở xóm nào, thuở nhỏ mô côi cả cha lẫn mẹ, được anh nuôi. Anh là Giáp tham lam, bủn xỉn, không yêu thương em, chị dâu cũng tàn ác hung bạo. Khi Ất lớn ra ở riêng, tài sản của cha bị anh chị chiếm hết. Ất chỉ được một mảnh ruộng cằn với gian nhà nát mà thôi. Nghèo đói quá, Ất phải đi làm mướn, kiếm củi để sống qua ngày. Năm ngoài hai mươi tuổi, Ất nghèo không lấy nổi vợ, anh không đoái hoài đến mà em cũng chẳng muốn hỏi xin.

Làng bên có một ông nhà giàu. Ất thường làm mướn ruộng cho nhà ấy, lâu dần thành quen. Phú ông có một khoảnh đất bỏ hoang, Ất xin đến ở, bèn gánh cả cơ nghiệp dọn đến. Từ đấy, càng xa cách Giáp, năm hết tết đến cũng chẳng hỏi han gì đến nhau.

Ất tuy nghèo nhưng hay làm điều thiện, gặp ai bần cùng đều chia sẻ cho họ. Một hôm anh đi làm thuê, chiều tối về thấy một người nằm giữa cửa, lay thì người ấy rên không dậy được. Thắp đèn lên soi thì thấy một ông già gầy guộc, ốm yếu, mắt nhèm, mũi dãi tanh hôi dị thường, nôn mửa, phân vung vãi khắp ngoài cửa. Ất vực dậy hỏi han, ông già nói là người thôn bên, nghèo ốm phải đi ăn xin, tối đến đây mệt quá, xin nhờ một xó nằm nghỉ cho hết đêm. Ất mở cửa đỡ vào, rót nước nóng cho uống, ông già hơi tỉnh, bèn chải chăn chiếu cho nằm; thổi nấu xong gọi ông già cùng ăn. Ông già ốm yếu mà ăn thật khỏe, ăn hết hơn một đấu gạo còn kêu đói. Ất sẻ thức ăn sang cho ông cụ. Lúc lâu sau, ông cụ mới xoa bụng nói:

– Lão no rồi. Thằng con lão hư đốn không biết hiếu thuận, nếu lão có được người con như cháu thì thật là mãn nguyện.

Rồi ông lão nằm duỗi dài ra, ngủ thì ngáy như sấm, tỉnh thì ho hắng khạc nhổ, ầm ĩ cả đêm, song Ất không hề tỏ ra khó chịu. Sáng hôm sau, ông già trở dậy, Ất lại sửa soạn mâm bát. Ông già ngăn lại nói:

– Cháu hay làm việc thiện thì không đáng phải nghèo. Ơn một bữa cơm lão không thể không báo đáp.

Rồi lấy chậu hứng dưới mũi, ngoảnh lại bảo Ất:

– Lấy cán muôi đập vào mũi lão đi!

Ất không chịu, ông già nài ép, Ất đành đập mấy cái, máu chảy ra, Ất sợ quả dừng tay lại nhưng ông già bảo cứ đập tiếp. Khi máu thôi chảy thì thấy vàng ùn lên từ đáy chậu, lát sau đã đầy. Ông già quay lại bảo Ất:

– Giữ lấy chỗ vàng này có thể làm giàu được rồi đấy! Cháu hãy gắng làm điều thiện, đừng giảm sút nhé!

Ất kinh ngạc lạy tạ, lúc ngẩng đầu lên thì cụ già đã đi rồi. Ất được vàng, nhưng giấu kín, vẫn đến ông nhà giàu vay tiền, nói là để đi buôn. Anh bỏ vàng vào đãy, mang lên kinh mua hàng đem về bán. Một năm đi ba bốn chuyến, mới dùng hết nửa số vàng mà tiền đã được hàng vạn vạn, anh bèn từ biệt ông nhà giàu về quê, chuộc lại căn nhà cũ, dần dà mua thêm ruộng, mượn người phá nhà cũ làm nhà mới, trở nên giàu có nhất làng. Sau đó Ất đến nhà người anh, nhờ anh hỏi con gái nhà thế tộc làm vợ.

Lúc đầu Ất về quê đến chào anh chị, vợ chồng Giáp đối xử nhạt nhẽo. Lâu cũng không thèm sang thăm, bỗng nghe nói người em giàu sụ, lấy làm lạ bèn đến xem. Khi tới nơi thấy gian nhà nát trên mảnh đất xưa kia đã được xây thành căn nhà lớn, sắp sửa làm xong. Em lại còn mua mấy mẫu ruộng xấu của một nhà hàng xóm liền kề, phát quang gai góc làm vườn, thợ thuyền, đầy tớ vận chuyển gỗ đá nối nhau không dứt. Anh chị kinh ngạc quá, hỏi em nguyên do, Ất kể kĩ lại những điều đã gặp, anh chị hâm mộ mãi, hỏi kĩ tuổi tác, hình dạng ông già để còn đi tìm.

Hơn một năm sau, người anh từ ngoài về vừa lúc có một ông già đội mũ vàng, mặc áo bào rách co ro đi qua cửa. Hai vợ chồng Giáp tranh nhau kéo vào nhà, ép ngồi ghế trên, chẳng kịp hỏi rõ ông ta từ đâu đến. Rồi mổ gà, thổi xôi, chặt cá làm gỏi, cung phụng rất hậu.

Ông già khép nép không dám nhận, vợ chồng Giáp đối xử theo lễ càng cung kính, lại nói:

– Tiên ông cứ lấy hết trong lỗ mũi ra thì cả đời đệ tử này ăn tiêu cũng không hết.

Sáng hôm sau, ông cụ vái chào xin đi, không tặng lại gì cả. Giáp giữ lại, không cho về, lấy cái nón lớn đặt trước mặt ông cụ, cắm cái dùi to vào Ông già hoảng hốt che đỡ. Giáp nói:

– Tiên ông không hiểu biết gì cả. Đệ tử không xin nhiều. Vàng cứ đầy này là được.

Tức thì sai vợ giữ quật tay ông lão, còn mình ra sức gõ vào sóng mũi ông vừa chọc máu đã chảy ra. Giáp mừng rỡ nói:

– Quả như lời chủ hai nói, vàng sắp thành rồi.

Liên tiếp đánh đến nỗi mũi ông cụ vỡ ra, rụng cả răng, khiến ông cụ phải hồ cứu mạng. Hàng xóm tứ bề kéo đến, không hiểu duyên cớ là gì. Hỏi thì chồng Giáp giận dữ không chịu nói, hỏi ông cụ mới biết tường tận nhưng ông cụ cũng không hiểu vì sao trước thì cung kính sau lại hung tợn như thế. Ông lão vốn là người bán tương ở thôn bên. Giáp ngày thường bủn xỉn, cả làng đều ghét nên có người chạy đi báo với con trai ông cụ. Anh con trai trước đó thấy cha mãi không về, đang lo đi tìm hỏi, nay hay tin giận lắm, tức khắc cùng người làng đưa cả ông cụ và vợ chồng Giáp lên quan. Quan cho rằng đánh tàn nhẫn một người lớn tuổi như thế thì phải đền tiền tạ tội theo luật, lại nọc vợ chồng Giáp ra đánh mấy chục hèo (2), mông nát cả thịt ra.

(Trích Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh (3), in trong Truyện truyền kì Việt Nam, Quyển hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2009)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. Nêu chủ đề của của văn bản.

Câu 3. Chỉ ra cách tác giả đã sử dụng để dẫn lời nói của nhân vật trong đoạn sau:

Ông già ngăn lại nói:

– Cháu hay làm việc thiện thì không đáng phải nghèo. Ơn một bữa cơm lão không
thể không báo đáp.

Câu 4. Ông già ăn mày xuất hiện trong truyện đã được Nguyễn Ất đối xử ra sao trong đêm đầu tiên gặp gỡ?

Câu 5. Vì sao vợ chồng nhân vật Giáp không được ông già đội mũ vàng, mặc áo bào rách ban tặng vàng?

Câu 6. Để biết rõ người tốt người xấu, trao phần thưởng cho người thật sự tốt bụng, lương thiện, ông tiên đã thử lòng Ất bằng hành động nào?

Câu 7. Em đánh giá nhân vật Ất như thế nào qua chi tiết: “Ất được vàng, nhưng vẫn giữ kín đến nhà phú ông vay tiền, nói là để đi buôn…” Theo em, vì sao anh lại giấu kín số vàng ấy và vẫn đến vay tiền phú ông?

Câu 8. Thông qua hình ảnh Ông tiên và nhân vật Ất tác giả muốn gửi gắm đến người đọc thông điệp gì?

Câu 9. Từ câu chuyện Ông tiên ăn mày, em rút ra thông điệp nào cho bản thân.


ĐỀ BÀI 12. THI THÀNH HOÀNG

Đọc văn bản sau:

THI THÀNH HOÀNG

Ông tổ của anh rể tôi, Tống Công là một sinh viên ăn học bổng của ấp. Một hôm nằm bệnh, thấy có viên lại cầm văn thư, dắt một con ngựa trán có đốm trắng đến nói rằng:

– Xin mời ông đi thi

Ông nói:

– Quan giám khảo chưa đến, sao vội thi được?

Viên lại không nói gì, chỉ thúc đi. Ông bèn cố gượng cưỡi ngựa đi theo, thấy một con đường rất xa lạ đến một toà thành quách như nơi kinh đô. Một lát vào giải vũ, cung điện tráng lệ, ngồi trên có hơn mười vị quan, đều không biết là ai, chỉ biết có một vị là Quan Vũ. Dưới thêm bày hai đôn hai kỷ, trước mình đã có một vị tú tài ngồi trên một đôn. Ông bèn ngồi hai bên cạnh. Trên kỷ có đặt bút và giấy. Giây lát có đề thi đưa xuống nhìn xem thì có tám chữ: “Nhất nhân, nhị nhân, hữu tâm, vô tâm”.

Hai ông làm bài xong, trình lên điện, trong bài văn của ông có câu:

“Hữu tâm vi thiện, tuy thiện bất thưởng,
Vô tâm vi ác, tuy ác bất phạt”.

(Làm việc thiện mà có chủ ý thì không được thưởng, Làm việc ác mà không có chủ ý thì không bị phạt).

Các thần đưa nhau xem, khen mãi không thôi, gọi lên báo rằng:

– Ở Hà Nam khuyết một chức Thành Hoàng, ông đáng giữ chức ấy.

Ông hiểu ra, đập đầu khóc mà thưa rằng:

– Được ân ban sủng đâu dám từ nan, chỉ hiềm một nỗi còn mẹ già bảy mươi tuổi, không ai phụng dưỡng. Xin được đến hết tuổi trời lúc ấy lục dụng sẽ vâng theo.

Trên toà có vị vương giả truyền rằng:

– Tra sổ xem người mẹ thọ bao nhiêu?

Có một viên quan lại râu dài, lấy sổ ra xem, rồi bẩm:

– Theo sổ còn được ở dương gian chín năm nữa.

Trong lúc các quan còn dùng dằng thì quan đế nói:

– Không hề gì, cho Trương Sinh thay giữ chức ấy chín năm cũng được.

Một ông nói rằng:

– Đáng lẽ phải đi nhận chức ngay. Nay xét có lòng hiếu cho nghỉ chín năm. Đến kì hạn phải nghe vâng lệnh triệu.

Đoạn cũng phủ dụ ông tú tài kia vài lời. Hai ông cúi đầu chào lui xuống […] Ông lên ngựa từ biệt mà về, tới làng chợt như tỉnh mộng. Ông chết đã ba ngày rồi, bà mẹ bỗng nghe trong quan tài có tiếng rên rỉ, bèn mở ra, nửa ngày thì nói được. Hỏi đến Trường Sơn thì có Trương Sinh chết vào ngày hôm đó thật.

Chín năm sau, quả nhiên bà mẹ chết. Chôn cất mẹ xong, ông tắm gội vào nhà trong cũng mất luôn. Bên nhà vợ, ở trong cửa thành phía tây chợt thấy ông cưỡi ngựa choàng ngù đỏ, rất đông xe ngựa đi theo, lên nhà trên làm lễ rồi ra đi. Cả nhà lạ lùng, kinh ngạc, không biết rằng đã thành thần rồi. Chạy đi hỏi thăm tin tức trong làng, thì ông đã mất.

(Liêu trai chí dị – Bồ Tùng Linh, Biên dịch Đại Lãn, NXB Thanh Hoá, trang 638,639, năm 2004)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.

Câu 2. Nêu chủ đề của văn bản.

Câu 3. Chuyển phần dẫn trực tiếp trong đoạn sau thành phần dẫn gián tiếp:

Các thần đưa nhau xem, khen mãi không thôi, gọi lên báo rằng:

– Ở Hà Nam khuyết một chức Thành Hoàng, ông đáng giữ chức ấy.

Câu 4. Chỉ ra và tác dụng của việc sử dụng các chi tiết kì ảo trong truyện.

Câu 5. Từ nhân vật Tống Công trong văn bản, em rút ra được bài học gì cho bản thân (trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).


ĐỀ BÀI 13. NAM KHA THÁI THÚ

Đọc đoạn trích:

NAM KHA THÁI THÚ

(Lược dẫn đoạn đầu: Hưởng Vu Phần, một người đàn ông nghiện rượu, tên của anh phản ánh tính cách và hoàn cảnh của anh. Hưởng Vu Phần đã tiêu tốn tài sản vào rượu và cuộc sống buông thả, dẫn đến sự bần cùng và thất bại trong sự nghiệp. Dù đã từng là sĩ quan, anh bị cách chức do uống rượu say và vi phạm mệnh lệnh nên bị cách chức. Hiện tại, anh sống lông bông, cùng bạn bè uống rượu và tiêu xài hoang phí. Chàng sống ở cố hương gần miền Quảng Lăng, cách thành khoảng ba dặm, gần một cây hòe cổ thụ mà anh thường tụ tập với bạn bè. Cây hòe đã sống nhiều năm và gợi nhớ cho anh những kỷ niệm thời thơ ấu. Trong cơn say, Hưởng Vu Phần cảm thấy xúc động và khóc khi nhìn cây hòe, cảm thấy tiếc nuối về cuộc đời đã qua và sự thất bại hiện tại của mình. Bạn bè phải dìu anh vào nhà và đặt anh nằm nghỉ).

– Cậu chợp mắt đi một chốc, là khỏe lại ngay. Bọn tớ đi cho ngựa ăn, tắm rửa cho ngựa, đợi cậu khá một chút rồi mới về.

Hưởng Vu Phần thiêm thiếp ngủ say. Vừa nhắm mắt thì thấy có hai sứ giả áo tím đến vái chào, cung kính nói:

– Quốc vương Hòe An đang đợi tiên sinh, đã phái xe ngựa ra đón, mời tiên sinh nhập triều ngay cho.
Hưởng Vu Phần lập tức ngồi dậy, thay quần áo mói đẹp. Ra đến cổng nhà thấy có cỗ xe màu lục, tháng bốn con ngựa lớn, ngựa mang dây cương vàng, dây đai hồng.

Một đội tùy viên của Hoàng gia khoảng bảy, tám người đang đứng chờ. Chàng vừa leo lên ngồi xuống, xe liền phóng xuống dốc. Rễ cây thô lớn quấn quanh, hình thành một cái động lớn. Ngoài ý liệu của chàng, cỗ xe cứ phóng thẳng vào trong động. Vào cửa mới thấy có cả một dải giang sơn phong quang đẹp đẽ trước nay chàng chưa bao giờ được thấy. Ba bốn dặm phía trước, có thành cao vây quanh, trên tường thành chòi canh san sát, lầu trên cao vót. Dọc đường lớn dẫn đến cổ thành, xe ngựa đi lại như nước chảy, giao thông nhộn nhịp. Khách bộ hành đứng ở hai bên dường nhường đường cho xe đi qua, ai nấy đều chăm chú nhìn vị khách quý. Đến trước cổng thành, Hưởng Vu Phần thấy trên thượng lâu của thành viết ba chữ vàng “HÒE AN QUỐC”. Tường thành vây quanh vài chục dặm, trên đường, nhân dân chen vai thích cánh tựa hồ họ đều là những người cần lao hoạt bát. Tất cả đều tề chỉnh sạch sẽ, lễ phép, lịch sự đến không ngờ. Họ chào hỏi nhau rất tử tế, dừng chân chưa đầy một sao lại dóng xe lên đường trước như thể công tác bận bịu mà ngày giờ thì không có nhiều. Chàng không biết tại sao dân ở đây lại vội vã như vậy. Trên đầu những người phu đội những chiếc mũ lớn. Ngoài ra, cùng còn những trạm đồn lính, những người lính canh tuân, quân phục chỉnh tề sạch sẽ.

Vị đặc sứ của Quốc vương đứng đợi ở cổng thành nghênh tiếp, sau đó cùng chàng đến một tòa dinh thự nguy nga tráng lệ, tòa dọc dãy dài có những hoa viên tuyệt đẹp. Đây là nơi ở của khách của nước.

Đến nơi, thị tùng vào thông báo có tể tướng đến thăm. Chủ khách gặp gỡ. Tể Tướng nói đến việc hướng dẫn chàng đi yết kiến hoàng thượng. Tể Tướng bảo:

– Hoàng đế muốn gả công chúa thứ hai cho Phò mã tiên sinh.

Hưởng Vu Phần nói:

– Kẻ hèn mọn này dám đâu nhận vinh dự lớn lao ấy.

Tuy nói vậy, nhưng lại hết sức mừng rỡ trước diễm phúc lớn lao này. Bụng nghĩ: “Cuối cùng thì vận may của ta cũng đã đến. Ta sẽ làm cho nhân dân cả nước rõ mặt Hưởng Vu Phần này là người như thế nào. Ta nhất, định sẽ là một vị quan trung thực, trên thờ minh quân, dưới vỗ yên trăm họ. Những ngày lêu lỏng trước đây coi như tuốt tuột quẳng vào quá khứ, để mọi người thấy ta đây một phen dựng xây công nghiệp”.

(Lược một đoạn: Hưởng Vu Phần, được Hoàng Đế gả công chúa Dao Phượng làm vợ, cảm thấy vô cùng vinh dự và hạnh phúc. Sau khi được phong làm Phò mã, anh được Hoàng Đế giao cho chức vụ Thái Thú Quận Nam Kha. Trong thời gian ở Nam Kha, anh và công chúa sống cuộc sống viên mãn và được dân chúng yêu mến vì công chúa chăm sóc cho dân và xử lý công việc hiệu quả. Hưởng Vu Phần mặc dù lười biếng và khó khăn trong công việc chính trị, nhưng anh vẫn được công chúa hỗ trợ và cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại. Anh thường cùng vợ đi dạo và thưởng thức cuộc sống, cảm thấy cuộc đời mình đã đủ đầy và mỹ mãn. Ít lâu sau công chúa lâm bệnh nặng mà chết, Hưởng Vu Phần chìm đắm trong rượu và đau khổ, dẫn đến sự suy sụp và bị hoàng đế và dân chúng xa lánh. Cuối cùng, khi được Hoàng Hậu cho phép trở về quê, anh trở về Quảng Lăng).

Hưởng Vu Phần giật mình tỉnh dậy, thấy bạn bè lão Chu, lão Điền đang đứng rửa chân ở sân, tịch dương đổ bóng râm in trên vách tường đông. Chàng thảng thốt kêu lên:

– Đời người như giấc mộng a!

Lão Chu, lão Điền chạy vội đến hỏi:

– Sao, cái gì? Đã thấy tỉnh chút nào chưa?

Chàng kể lại giấc mộng ly kỳ ở nước Hòe An cho hai người nghe, cả hai đều kinh lạ. Chàng dẫn Chu, Điền hai gã ra dưới gốc hòe, chỉ chỗ rễ cây ngoằn ngoèo uốn khúc, dưới có một cái hang lớn bảo:

– Đây chính là nơi cỗ xe ngựa đưa tôi đi vào, tôi còn nhớ rất rõ.

– Nhất định cậu bị tinh cây mê hoặc đây, Cây hòe này già lắm rồi.

Hưởng Vu Phần nói:

– Sáng mai hai cậu trở lại, mình cùng xem xét cái động này xem sao.

Hôm sau, chàng sai đầy tớ cầm rìu đào cái động nọ lên. Sau khi chặt đứt một số rễ cây lớn thì phát hiện cái động này vuông cỡ mười thước (Tàu). Trong động, đường đi quanh co dọc ngang. Ở mé Đông, có bãi đất trống bằng phẳng có một tòa thành nhỏ, có đường đi, có địa khu, có đường thông, nghìn vạn con kiến đang vây quanh. Ở giữa có một đài cao, phía trên có hai con kiến lớn cánh trắng, đầu trắng, có rất nhiều kiến lớn đứng bốn phía. Hưởng Vu Phần kinh ngạc quá nói:

– Đây chính là Hòe An Quốc. hoàng đế đang ngồi trong cung đó.

Giữa động có một đường thông đạo dài đến một cành cây mé Nam, ở đó có một cái động lớn, phía ngoài có một con kiến, bên trong kiến trúc bằng bùn, cũng có đường thông. Sắc kiến ở đây so với những con ở giữa trung tâm động thì đen hơn. Chàng nhận ra đó là lầu thành của Quận Nam Kha, cái thành thị nhỏ nơi chàng từng sống quá một năm êm ấm. Sào huyệt của kiến bị người quậy phá. Chàng thấy lũ bách lính dưới tay chàng trị lý năm xưa đang kinh hoàng chạy cuống cuồng khắp nơi, lòng chợt xót xa không nỡ. Tận cùng chỗ mục nát của rễ cây được khoét thành một đường rãnh, cạnh bên có một miếng rêu xanh, không ngờ gì nữa, đây chính là chỗ chàng và công chúa đã từng sống qua những ngày sướng vui vô hạn ở chốn rừng rậm. Gần đó có một cái động nhỏ, chính trong động này vợ từng khuyên bảo chàng:

– Thôi đủ rồi, không nên uống nữa!

Hưởng Vu Phần khôn xiết kinh lạ, chàng lại đo lường con đường thông đến trung tâm động nọ. Con đường này chàng từng cùng công chúa dong cỗ xe ngựa đi suốt ba ngày trời. Sau cùng chàng còn phát hiện một cái động nhỏ khác, xa về mé Đông cờ mười thước (Tàu). Ở đó, có ít cục đá chỉ nhỏ cao chừng ba tấc, trên có một cục đá nhỏ ở chỗ vách đá cheo leo cao vút. Nhìn qua hình dạng, lập tức chàng nghĩ đến lăng tẩm của công chúa. Vẫn biết rằng đó chỉ là giấc mộng, nhưng đối với tình ân ái của còng chúa, chàng vẫn như xưa không thể nào nguôi. Chàng không nén được cảm thán nỗi hư vô không huyễn của kiếp nhân sinh, hệt như khói mây trôi qua mắt. Chàng thở dài quay bảo Chu, Điền hai người:

– Tôi cứ tưởng mình nằm mộng, dế đâu bây giờ mới biết Hòe An Quốc hoàn toàn là thật. Giữa ban ngày ban mặt, không tơ hào là giả. Đại khái, chúng mình đều là đang mộng cả đấy thôi.

Từ đó về sau, Hưởng Vu Phần khác hẳn. Chàng xuất gia làm sư, lại uống rượu lại, càng uống dữ dội hơn. Ba năm sau thì chết.

(Trích Truyện truyền kì Trung Quốc, Lâm Ngữ Đường)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định nhân vật chính trong câu chuyện?

Câu 2. Chỉ ra một chi tiết hoang đường, tưởng tượng trong câu chuyện?

Câu 3. Những chi tiết nào trong giấc mơ của Hưởng Vu Phần phản ánh rõ nét đặc trưng của thể loại truyền kỳ?

Câu 4. Tại sao Hưởng Vu Phần lại nhận ra cuộc đời của mình chỉ như một giấc mộng sau khi tỉnh dậy?

Câu 5. Qua câu chuyện tác giả muốn gửi gắm đến người đọc thông điệp gì? Thông điệp ấy có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống?


ĐỀ BÀI 14. BỮA TIỆC ĐÊM Ở ĐÀ GIANG

Đọc đoạn trích sau:

BỮA TIỆC ĐÊM Ở ĐÀ GIANG

(Tóm tắt phần đầu: Năm Bính Dần, vua Trần Phế Đế đi săn, đỗ lại trên bờ bắc sông Đà, đêm mở tiệc ở trong trướng. Có một con cáo đi từ dưới chân núi đi về phía nam, gặp một con vượn già. Cả hai bày mưu để có thể can ngăn chuyến đi săn của nhà vua để cứu tính mệnh của muôn loài.)

Rồi cả hai cùng hóa thành hai người đàn ông mà đi. Một người xưng là tú tài họ Viên, một người xưng là cư sĩ họ Hồ, đương đêm đến gõ cửa hành cung, nhờ kẻ nội thị chuyển đệ lời tâu vào rằng:

– Tôi nghe thánh nhân trị vì, càn khôn trong sáng, minh vương sửa đức, chim muông hòa vui. Nay chúa thượng đương kì thái hạnh, làm chủ dân vật, tưởng nên mở lưới vây hiền, giăng chài vét sĩ, đương gội thì quấn mái tóc, lên xe thì dành bên tả, đem xe bồ ngựa tứ săn những kẻ sĩ trong đám ẩn dật, khiến trong triều nhiều bậc lương tá để ban ân trạch cho sinh dân, đưa tất cả cuộc đời vào cõi nhàn thọ. Cớ sao lại đi săn gấu bắt thỏ, tranh cả công việc của chức Sơn ngu như vậy.

Bây giờ vua say rượu đương muốn đi nằm, sai thủ tướng Quý Ly mời hai người vào tiếp đãi ở phía dưới thềm khách và bảo cho họ biết săn bắn là phép tắc đời xưa, sao lại nên bỏ?

Cư sĩ họ Hồ nói:

– Đời xưa đuổi loài tê thượng là để trừ hại, mà mở cuộc sưu miêu là để giảng võ. Chuyện đi săn Vị Dương là vì một ông già không phải gấu cũng không phải hùm. Vì sự phô phang quân lính mới có cuộc săn ở Vu Nhâm. Vì sự phô phang của cầm thú mới có cuộc bắn ở Trường Dương. Nay thì không thế. Đương mùa hạ mà giờ những công việc khổ dân không phải thời, giày trên lúa để thỏa cái ham thích săn bắn, không phải chỗ; quanh đầm mà vây, bọc núi mà đốt, không phải lẽ. Ngài sao không tâu với thánh minh, tạm quay xa giá về khiến người và vật đều được bình yên?

Quý Ly nói:

– Không nên!

Cư sĩ họ Hồ nói:

– Đó là tôi thương những giống chim hèn muông yếu mà xin nài cho chúng. Chứ còn những giống tinh thông nhanh nhẹn thì tự nhiên chúng biết xa chạy cao bay, đàng nam núi nam, đàng bắc núi bắc, há chịu trần trần ấp cây một phận đâu.

Quý Ly nói:

– Nhà vua đi chuyến này không phải vì ham thích chim muông, chỉ vì nghe ở đây có giống hồ tinh nghìn tuổi, nên ngài muốn đại cử tiễu trừ, khiến loài yêu gian không thể giở trò xằng bậy được. Có thế thôi.

Tú tài họ Viên đưa mắt nhìn cư sĩ họ Hồ, rồi mỉm cười. Quý Ly hỏi vì sao, Hồ chợt đáp:

– Hiện giờ sài lang đầy đường lấp lối, sao lại lo đến giống hồ ly?

Quý Ly nói:

– Ngài nói vậy là ý nào?

Hồ nói:

– Hiện nay thánh hóa chưa khắp, bờ cõi chưa yên. […] Sao không giương cung thánh nhân, tuốt lưỡi gươm thiên tử, lấy nhân làm yên khấu, lấy nghĩa làm chèo lái, lấy hào kiệt làm nanh vuốt, lấy trung tín làm giáp trụ, cẩn thận lồng cũi để giá ngự những phường khó trị, sửa chuốt cung tên để dọa nạt những nước bất phục, tóm bắt giặc giã, đóng cũi giải về, khiến cho gần xa quang sạch. Cớ sao bỏ những việc ấy không làm, lại đi lẩn quẩn ở công việc săn bắn? Dù được chim muông như núi, chúng tôi cũng lấy làm không phục.

Quý Ly nghe lời. Hai người mừng thầm nói:

– Thế là mưu kế có kết quả rồi.

(Trích Bữa tiệc đêm ở Đà giang, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 237-239)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Chỉ ra đặc điểm không gian, thời gian của đoạn trích truyện trên.

Câu 2. Theo đoạn trích, sự việc nào khiến cho cáo và vượn già phải bày mưu tính kế gặp vua?

Câu 3. Nhận xét vai trò của các yếu tố kì ảo trong đoạn trích.

Câu 4. Qua cuộc nói chuyện giữa Quý Ly và hai người do cáo và vượn hóa thành, tác giả muốn thể hiện điều gì?

Câu 5. Thông điệp sâu sắc mà nhà văn Nguyễn Dữ gửi gắm có ý nghĩa như thế nào với đời sống hiện nay?


ĐỀ BÀI 15. ĐẠO SĨ NÚI LAO

Đọc văn bản sau:

ĐẠO SĨ NÚI LAO

(Tóm tắt trước đoạn trích: Trong ấp (huyện) có chàng họ Vương, vào hàng thứ bảy, là con nhà cố gia, tuổi trẻ mộ đạo, nghe nói trên núi Lao Sơn(1) có một vị tiên, liền quẩy tráp tới thăm. Thấy đạo lí huyền diệu, họ Vương quyết định ở và tôn vị đạo sĩ ấy làm thầy. Sau hơn một tháng phải làm việc, họ Vương tay chân phỏng mọng, có bụng muốn về….)

[1] Một buổi chiều, về đến quản, thấy đạo sĩ đang ngồi uống rượu với hai người khách. Trời đã tối mà chưa thấy thắp đèn, đốt lửa gì cả. Đạo sĩ bèn cắt một miếng giấy tròn như tấm gương, dán lên vách. Phút chốc, ánh trăng vằng vặc từ trên vách chiếu xuống, sáng rõ cả ngọn cỏ, sợi tơ. Bọn học trò chạy quanh hầu hạ.

Một người khách nói:

– Đêm nay trời đẹp, cùng nhau vui uống, nên cho ai nấy đều vui.

Bèn cầm hồ rượu trên bàn, rót cho bọn học trò đứng hầu, dặn mọi người nên uống thật say. Vương nghĩ bụng hồ rượu nhỏ như thế mà chia ra bảy, tám người làm sao cho đủ. Thấy bọn chúng, đứa cầm chén, đứa vác chậu, tranh nhau uống trước, như sợ mất hết, không tới lượt mình. Vậy mà rót hết chén này đến chén khác vẫn chẳng thấy rượu vơi đi chút nào, bụng thầm lấy làm lạ.

Bỗng một vị khách nói:

– Dưới trăng đẹp mà uống suông mãi cũng buồn. Sao chẳng mời chị Hằng chơi?

Đạo sĩ bèn lấy một chiếc đũa, vứt vào giữa Mặt Trăng. Bỗng thấy một người đẹp từ trong bóng sáng bước ra: lúc mới đến, chưa đầy một thước, mà vừa đặt chân từ trong bởi cao lớn như người thường, lưng thon thả, cổ trắng muốt, áo quần phấp phới, uyển chuyển múa khúc Nghê Thường. […]

[2] Vương thích lắm, đem lòng kính mộ đạo sĩ, bụng muốn về cũng tiêu tan. Lại qua một tháng nữa, khổ không kham, mà đạo sĩ vẫn chưa truyền cho một phép gì. Sốt ruột quá, bèn lên cáo từ, xin về:

– Đệ tử qua mấy trăm dặm đường tới xin học thầy; dẫu chẳng học được cái đạo trường sinh bất tử, cũng mong thầy dạy cho chút gì gọi là há chút lòng cầu học. Thể mà qua hai, ba tháng, chỉ những sáng đi kiếm củi, tối lại trở về. Hồi ở nhà, đệ từ chưa bao giờ khổ như thế.

Đạo sĩ cười, bảo:

– Ta đã nói trước là anh không chịu nổi khó nhọc, nay đã quả nhiên. Sáng mai, sẽ cho người dẫn anh về.

Vương lại nài nỉ:

– Đệ tử làm lụng đã nhiều, xin thầy dạy cho một thuật mọn, khỏi phụ công lao đệ tử lặn lội tới đây. Đạo sĩ hỏi muốn cầu thuật gì, Vương nói: Thường thấy thầy đi đâu, tường vách không ngăn nổi, chỉ xin một phép ấy cũng đủ lắm. Đạo sĩ cười, nhận lời. Bèn dạy cho phép bắt quyết(4), bảo miệng đọc mấy câu thần chú, rồi hô: “Vào đi! Vào đi!”. Vương đối mặt với bức tường, nhưng ngần ngừ không dám vào. Đạo sĩ lại hô rằng:

– Cứ vào đại thử coi!

Vương theo lời, thong thả tiến lại, nhưng đến tường bị vấp. Đạo sĩ bảo cúi đầu, vào thật nhanh, đừng rụt rè. Vương bước xa bức tường mấy bước, đọc câu thần chú, bước nhanh tới, cảm thấy như chỗ trống không. Quay nhìn lại thì đã thấy mình ở bên kia tường. Mừng quá, vào lạy tạ xin về.

Đạo sĩ nói:

– Về nhà phải giữ gìn đứng đắn; không thể thì phép không nghiệm nữa đâu.

Nói rồi, cấp tiền cho Vương ăn đường mà về.

Đến nhà, chàng khoe đã gặp tiên, tường vách dày đến đâu cũng không ngăn nổi. Vợ không tin. Vương theo như cách đạo sĩ đã dạy, cách tường mấy bước,cúi đầu chạy ù vào. Đầu đập tường cứng ngã lăn đùng. Vợ nâng dậy, nhìn xem, thấy trản sưng bươu bằng quả trứng. Vợ chế giễu mãi. Vương vừa thẹn vừa tức, chửi mãi lão đạo sĩ bất lương.

(Trích Đại sĩ núi Lao, Bồ Tùng Linh, Liêu trai chí dị (Nguyễn Đức Lân dịch), NXB Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 20–23)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Xác định thể loại của đoạn trích trên.

Câu 2: Theo đoạn trích [1], sau khi đạo sĩ lấy một chiếc đũa, vứt vào giữa Mặt Trăng, điều gì đã xảy ra?

Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo được sử dụng trong đoạn [2].

Câu 4: Hành động “chửi mãi lão đạo sĩ bất lương” của Vương sau khi thất bại ở nhà cho thấy điều gì về tính cách của nhân vật này?

Câu 5: Từ kết cục của nhân vật họ Vương, anh/chị rút ra thông điệp gì về con đường tu luyện, rèn giũa bản thân?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang