Đọc văn bản sau:
BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG
[…] Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang…
Có cô Tấm náu mình trong quả thị,
Có người em may túi đúng ba gang.
Quê hương tôi có ca dao tục ngữ,
Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi.
Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ,
Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi.
Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất
“Cuốc cuốc” kêu nhỏ máu những đêm vàng,
Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc
Theo người đi cứu nước chống xâm lăng.
Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,
Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng.
Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm,
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một Truyện Kiều.
[…]
(Trích Bài thơ quê hương – Nguyễn Bính, Nguyễn Bính thơ và đời, NXB Văn học Hà Nội, trang 134-135)
* Ghi chú: Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc. Tác phẩm Bài thơ quê hương được Nguyễn Bính sáng tác vào dịp Tết năm 1966.
Thực hiện những yêu cầu sau:
Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? Căn cứ vào dặc điểm, dấu hiệu nào em xác định như vậy?
Câu 2. Nêu chủ đề của văn bản.
Câu 3. Trong những câu thơ sau, nhà thơ nhắc tới truyền thống nào của quê hương? Dựa vào đâu em biết được điều đó?
Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,
Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng.
Câu 4. Em hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong khổ thơ sau:
Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm,
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một Truyện Kiều.
Câu 5. Ở hai khổ thơ cuối của đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những danh nhân lịch sử và văn hóa nào? Việc nhắc đến các danh nhân ấy thể hiện tình cảm, thái độ gì của tác giả đối với quê hương, đất nước?
Câu 6. Nêu thông điệp ý nghĩa nhất mà em nhận được qua văn bản trên?
Câu 7. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp truyền thống của quê hương được tác giả gợi ra trong hai khổ thơ đầu của văn bản đọc hiểu.
* GỢI Ý TRẢ LỜI:
Thực hiện những yêu cầu sau:
Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? Căn cứ vào dặc điểm, dấu hiệu nào em xác định như vậy?
* Trả lời:
– Văn bản được viết theo thể thơ: tự do.
– Căn cứ xác định:
- Số chữ (tiếng) trong các dòng thơ không đều nhau:
- Có dòng 8 tiếng: Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
- Có dòng 7 tiếng: Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang…
- Cách ngắt nhịp linh hoạt, tự do, không bị ràng buộc chặt chẽ bởi niêm luật hay vần điệu cố định như các thể thơ truyền thống khác (lục bát, thất ngôn…).
Câu 2. Nêu chủ đề của văn bản.
* Trả lời:
– Chủ đề của văn bản: Đoạn trích ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, đất nước, từ đời sống văn hóa dân gian, đời sống con người, truyền thống yêu nước – chống ngoại xâm đến các giá trị lịch sử, văn học và tinh thần dân tộc; qua đó thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, niềm tự hào dân tộc sâu sắc và sự trân trọng, lòng biết ơn của tác giả đối với quê hương, đất nước.
Câu 3. Trong những câu thơ sau, tác giả nhắc tới truyền thống nào của quê hương? Dựa vào đâu em biết được điều đó?
Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,
Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng.
* Trả lời:
– Trong những câu thơ đã cho, tác giả nhắc tới truyền thống yêu nước và tinh thần chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam.
– Dựa vào việc tác giả nhắc đến các anh hùng lịch sử tiêu biểu như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo – những người lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.
Câu 4. Em hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong khổ thơ sau:
Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm,
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một Truyện Kiều.
* Trả lời:
– Điệp ngữ: “có” (được lặp lại 6 lần)
– Tác dụng:
- Nhấn mạnh sự phong phú, giàu có của quê hương về văn hóa, nghệ thuật, lễ hội và truyền thống văn học → đối với nội dung
- Tạo nhịp điệu cho lời thơ → đối với hình thức nghệ thuật
- Thể hiện niềm tự hào sâu sắc của tác giả đối về quê hương → đối với tình cảm, tư tưởng của tác giả.
Câu 5. Ở hai khổ thơ cuối của đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những danh nhân lịch sử và văn hóa nào? Việc nhắc đến các danh nhân ấy thể hiện tình cảm, thái độ gì của tác giả đối với quê hương, đất nước?
Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,
Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng.
Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm,
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một Truyện Kiều.
* Trả lời:
– Danh nhân lịch sử và văn hóa được nhắc đến:
- Danh nhân lịch sử, anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo.
- Danh nhân văn hóa : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.
– Ý nghĩa: Việc nhắc đến các danh nhân thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn và sự trân trọng của tác giả đối với truyền thống lịch sử, văn hóa vẻ vang của quê hương, đất nước.
Câu 6. Nêu thông điệp ý nghĩa nhất mà em nhận được qua văn bản trên?
* Trả lời:
– Nhận thức: Quê hương là cội nguồn thiêng liêng, nơi kết tinh những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần dân tộc
– Hành động: Mỗi người cần biết yêu thương, trân trọng, tự hào và có trách nhiệm giữ gìn, phát huy truyền thống quê hương, đất nước.
Câu 7. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp truyền thống của quê hương được tác giả gợi ra trong hai khổ thơ đầu của văn bản đọc hiểu.
“Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang…
Có cô Tấm náu mình trong quả thị,
Có người em may túi đúng ba gang.
Quê hương tôi có ca dao tục ngữ,
Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi.
Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ,
Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi”.
* Gợi ý trả lời:
1. Mở đoạn: Giới thiệu hai khổ thơ đầu của văn bản Bài thơ quê hương. Khái quát cảm nhận chung: hai khổ thơ gợi lên vẻ đẹp truyền thống đậm đà bản sắc của quê hương Việt Nam.
2. Thân đoạn:
a) Nội dung:
– Quê hương hiện lên qua:
- Thế giới cổ tích, truyện kể dân gian (Tấm Cám, Thạch Sanh).
- Ca dao, tục ngữ, phong tục thấm đẫm nghĩa tình.
b) Đặc sắc nghệ thuật:
– Thể thơ: thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt.
– Biện pháp tu từ:
- Điệp ngữ, điệp cấu trúc (“có…”) tạo nhịp điệu, nhấn mạnh sự phong phú của quê hương.
- Nhân hóa, liệt kê làm hình ảnh thơ sinh động, gần gũi.
- Ngôn ngữ: mộc mạc, giản dị, đậm chất dân gian.
- Giọng điệu: nhẹ nhàng, tha thiết, giàu cảm xúc.
c) Nhận xét: Sự hòa quyện giữa nội dung và hình thức nghệ thuật góp phần thể hiện rõ tình cảm, cảm xúc của tác giả: yêu thương, trân trọng, tự hào, biết ơn đối với quê hương, đất nước và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
3. Kết đoạn:
– Khẳng định ý nghĩa chủ đề: quê hương là cội nguồn thiêng liêng của mỗi con người, nơi kết tinh những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần dân tộc.
– Suy nghĩ và hành động của bản thân: Đọc đoạn trích, tôi nhận ra rằng quê hương là cội nguồn thiêng liêng, nơi kết tinh những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần dân tộc. Qua đó, tôi tự nhắc mình cần biết yêu thương, trân trọng, tự hào và có trách nhiệm giữ gìn, phát huy truyền thống quê hương, đất nước.
* Đoạn văn:
Trong hai khổ thơ đầu của văn bản Bài thơ quê hương, tác giả đã gợi mở một bức tranh quê hương Việt Nam mang vẻ đẹp truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Quê hương hiện hình qua những truyện cổ tích,những câu chuyện kể dân gian quen thuộc như sự tích Tấm Cám, truyện cổ tích Thạch Sanh; trong ca dao, tục ngữ và những phong tục tập quán thấm đẫm nghĩa tình, nơi tình chồng vợ, tình yêu đôi lứa được gửi gắm qua những hình ảnh mộc mạc mà sâu sắc. Vẻ đẹp ấy được thể hiện sinh động bằng những đặc sắc nghệ thuật giàu giá trị: thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt; điệp ngữ, điệp cấu trúc “có…” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh sự phong phú của quê hương; cùng các biện pháp nhân hóa, liệt kê khiến hình ảnh thơ trở nên gần gũi, thân thương. Ngôn ngữ thơ giản dị, đậm chất dân gian, giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết. Sự hòa quyện hài hòa giữa nội dung và hình thức nghệ thuật đã khắc họa sâu sắc vẻ đẹp của quê hương, góp phần thể hiện rõ tình cảm yêu thương, trân trọng, tự hào và biết ơn của tác giả đối với quê hương, đất nước, đồng thời khơi dậy ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Đọc đoạn trích, tôi nhận ra quê hương chính là cội nguồn thiêng liêng của mỗi con người – nơi kết tinh những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần dân tộc. Từ đó, tôi tự nhắc mình phải biết yêu thương, trân trọng, tự hào và có trách nhiệm giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước mình.











