Đề thi vào 10 môn Ngữ văn Long An năm 2022-2023

I. PHẦN ĐỌC – HIỂU (5,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:

Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế. Chú lái máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc “Thế là một – hòa nhé!”. Chưa hòa đâu bác ạ. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ở, bác vẽ cháu đấy ư? Không, không, đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.

(Trích Ngữ văn 9, tập một)

Câu 1. Đoạn trích trên trích từ văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai? (1,0 điểm)

Câu 2. Nhân vật xung “cháu” trong đoạn trích trên là ai? Đoạn trích trên thể hiện những nét đẹp nào của nhân vật đó? (1,5 điểm)

Câu 3. Xác định khởi ngữ trong đoạn trích. Nêu công dụng của khởi ngữ. (1,0 điểm)

Câu 4. Tìm các lời dẫn có trong đoạn trích. Cho biết mỗi lời dẫn đó được dẫn theo cách nào? (1,5 điểm)

II. PHẦN LÀM VĂN (5,0 điểm)

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Ngày ngày đông người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”

(Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương, Ngữ văn 9, tập hai)

* HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI:

I. PHẦN ĐỌC – HIỂU

Câu 1. Đoạn trích trên trích từ văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai?

– Đoạn trích trên được trích từ văn bản “Lặng lẽ Sa Pa”.

– Tác giả của văn bản là Nguyễn Thành Long.

Câu 2 Nhân vật xung “cháu” trong đoạn trích trên là ai? Đoạn trích trên thể hiện những nét đẹp nào của nhân vật đó?

– Nhân vật xưng “cháu” trong đoạn trích là anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn (Sa Pa).

– Những nét đẹp của nhân vật được thể hiện trong đoạn trích:

  • Tinh thần trách nhiệm cao với công việc: góp phần phát hiện đám mây khô, giúp không quân ta chiến thắng máy bay Mĩ.
  • Khiêm tốn, không nhận công lao về mình: ngạc nhiên trước sự ghi nhận, từ chối để họa sĩ vẽ chân dung.
  • Lối sống đẹp, biết nghĩ cho người khác: giới thiệu những con người khác “đáng cho bác vẽ hơn”.

Câu 3. Xác định khởi ngữ trong đoạn trích. Nêu công dụng của khởi ngữ.

– Khởi ngữ trong đoạn trích: “Đối với cháu”.

– Công dụng của khởi ngữ:

  • Nêu lên đề tài được nói đến trong câu.
  • Nhấn mạnh thái độ, cảm xúc của nhân vật “cháu” trước sự việc, làm câu văn rõ ý và giàu sắc thái biểu cảm hơn.

Câu 4. Tìm các lời dẫn có trong đoạn trích. Cho biết mỗi lời dẫn đó được dẫn theo cách nào?

– Các lời dẫn trong đoạn trích:

  • “Thế là một – hòa nhé!” → Lời dẫn trực tiếp (được đặt trong dấu ngoặc kép, giữ nguyên lời nói).
  • “Chưa hòa đâu bác ạ.” → Lời dẫn trực tiếp.
  • “Ở, bác vẽ cháu đấy ư? Không, không, đừng vẽ cháu!” → Lời dẫn trực tiếp 

II. PHẦN LÀM VĂN

* Dàn bài chi tiết:

I. MỞ BÀI:

– Giới thiệu khái quát: Tác giả Viễn Phương – nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, thơ giàu cảm xúc, chân thành. Bài thơ Viếng lăng Bác – sáng tác năm 1976, khi tác giả từ miền Nam ra viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Dẫn vào đoạn thơ: Đoạn thơ thể hiện cảm xúc thiêng liêng, thành kính và niềm xúc động sâu sắc của người con miền Nam khi lần đầu được vào lăng viếng Bác.

II. THÂN BÀI:

1. Cảm xúc của người con miền Nam khi ra thăm lăng Bác:

– Câu thơ mở đầu: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

+ Cách xưng hô “con – Bác”:

+ Gợi mối quan hệ ruột thịt, gần gũi, thân thương.

+ Thể hiện tình cảm kính yêu, biết ơn sâu sắc của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ.

+ Cảm xúc xúc động, thiêng liêng của người con lần đầu ra thăm Bác sau bao năm chia cắt.

2. Hình ảnh hàng tre – biểu tượng của dân tộc Việt Nam

– Hình ảnh: “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”

+ Tre hiện lên trong làn sương: Tạo không khí trang nghiêm, thiêng liêng.

– Ý nghĩa biểu tượng:

+ Tre tượng trưng cho con người Việt Nam:Giản dị, bền bỉ, kiên cường.

+ Gắn bó, đoàn kết.

– Câu thơ: “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

+ Khẳng định tinh thần bất khuất, kiên trung của dân tộc.

+ Như một lời ca ngợi dân tộc Việt Nam đã vượt qua bao gian khổ dưới sự dẫn dắt của Bác.

3. Hình ảnh “mặt trời” – biểu tượng cho Bác Hồ

– Hai câu thơ:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

– Nghệ thuật ẩn dụ:

+ “Mặt trời” thứ nhất: mặt trời tự nhiên – mang ánh sáng, sự sống.

+ “Mặt trời trong lăng”: Bác Hồ – ánh sáng cách mạng, nguồn sống tinh thần của dân tộc.

– Từ “rất đỏ”:

+ Gợi sức sống mãnh liệt, lý tưởng cách mạng cao đẹp.

+ Thể hiện lòng tôn kính, ngợi ca công lao vĩ đại của Bác.

4. Dòng người viếng lăng – biểu tượng của lòng biết ơn dân tộc

– Hai câu thơ cuối:

“Ngày ngày đông người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

+ Hình ảnh “tràng hoa”: Ẩn dụ cho tình cảm yêu thương, biết ơn của nhân dân cả nước.

+ “Bảy mươi chín mùa xuân”: Hoán dụ chỉ cuộc đời Bác Hồ.

Cách nói trang trọng, giàu cảm xúc, thể hiện sự trân trọng trước cuộc đời cao đẹp, hi sinh trọn vẹn vì dân tộc.

5. Đánh giá nghệ thuật đoạn thơ

– Giọng thơ: Trang nghiêm, tha thiết, sâu lắng.

– Hình ảnh giàu tính biểu tượng (tre, mặt trời, tràng hoa).

– Biện pháp ẩn dụ, hoán dụ đặc sắc.

– Ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi.

Đoạn thơ kết tinh tình cảm chân thành, sâu sắc của nhà thơ và của nhân dân Việt Nam đối với Bác Hồ.

III. KẾT BÀI:

– Khẳng định giá trị của đoạn thơ: Là lời tri ân sâu sắc, thành kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Nêu cảm nhận của bản thân: Bày tỏ lòng biết ơn, kính yêu Bác. Tự nhắc nhở bản thân sống, học tập và rèn luyện xứng đáng với những hi sinh, cống hiến của Bác và các thế hệ đi trước.

Bài văn tham khảo:

Cảm nhận về đoạn thơ trích Viếng lăng Bác – Viễn Phương

Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là nguồn cảm hứng thiêng liêng và bất tận đối với nhiều thế hệ thi sĩ. Trong số đó, bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương nổi lên như một khúc trầm sâu lắng, kết tinh tình cảm chân thành, thành kính của người con miền Nam lần đầu ra thăm lăng Bác sau ngày đất nước thống nhất. Đoạn thơ mở đầu của tác phẩm không chỉ ghi lại khoảnh khắc xúc động khi nhà thơ đứng trước lăng Người mà còn thể hiện sâu sắc lòng biết ơn, niềm tự hào và sự tri ân của cả dân tộc đối với vị lãnh tụ vĩ đại.

Mở đầu đoạn thơ, Viễn Phương giới thiệu một cách giản dị nhưng đầy xúc động hoàn cảnh ra thăm lăng Bác:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

Cách xưng hô “con – Bác” mang đậm sắc thái tình cảm gia đình, gợi mối quan hệ ruột thịt, thiêng liêng giữa Bác Hồ và nhân dân. Không phải là “tôi”, không phải là “ta”, mà là “con” – một tiếng gọi thân thương, chân thành, thể hiện tình cảm sâu nặng của người dân miền Nam đối với Bác. Sau bao năm đất nước chia cắt, nhân dân miền Nam chỉ được biết đến Bác qua hình ảnh, qua lời nói, qua niềm tin, nay mới có dịp được trực tiếp ra thăm lăng Người. Câu thơ ngắn gọn mà chứa đựng biết bao cảm xúc dồn nén, vừa bồi hồi, vừa xúc động, vừa thiêng liêng.

Trong không gian ấy, hình ảnh đầu tiên hiện lên trước mắt nhà thơ là hàng tre xanh:

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.”

Hàng tre hiện ra trong làn sương sớm, tạo nên một khung cảnh trang nghiêm, tĩnh lặng. Tre là hình ảnh quen thuộc trong đời sống và văn hóa Việt Nam, gắn bó với làng quê, với lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong thơ Viễn Phương, tre không chỉ là cảnh vật mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. “Hàng tre xanh xanh Việt Nam” tượng trưng cho dân tộc Việt Nam – cần cù, giản dị, bền bỉ và kiên cường. Câu thơ “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” gợi lên sức sống mạnh mẽ, tinh thần bất khuất của con người Việt Nam qua bao thử thách, gian lao. Hình ảnh hàng tre đứng canh giấc ngủ cho Bác cũng chính là hình ảnh của nhân dân cả nước đời đời gìn giữ, bảo vệ những giá trị cao đẹp mà Người để lại.

Nếu hàng tre là biểu tượng cho dân tộc, thì hình ảnh “mặt trời” trong đoạn thơ tiếp theo lại là biểu tượng cho Bác Hồ:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.”

Ở đây, Viễn Phương đã sử dụng biện pháp ẩn dụ đầy sáng tạo. “Mặt trời” thứ nhất là mặt trời của tự nhiên, mang ánh sáng và sự sống cho muôn loài. “Mặt trời trong lăng” chính là Bác Hồ – người đã đem ánh sáng của cách mạng, của độc lập, tự do đến cho dân tộc Việt Nam. Từ “rất đỏ” không chỉ gợi sắc màu rực rỡ mà còn biểu trưng cho trái tim nồng nàn, lý tưởng cách mạng cao đẹp, cho sự hi sinh trọn vẹn của Bác vì Tổ quốc, vì nhân dân. Dù Bác đã đi xa, nhưng tư tưởng, sự nghiệp và tấm gương đạo đức của Người vẫn tỏa sáng, soi đường cho các thế hệ mai sau.

Không chỉ có thiên nhiên cúi mình trước Bác, mà con người cũng hướng về Người bằng tất cả lòng thành kính:

“Ngày ngày đông người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

Hình ảnh dòng người nối tiếp nhau vào viếng lăng Bác gợi lên không khí trang nghiêm, xúc động. “Tràng hoa” ở đây là một ẩn dụ đẹp, tượng trưng cho tình cảm yêu thương, biết ơn vô hạn của nhân dân cả nước dâng lên Bác. Cụm từ “bảy mươi chín mùa xuân” là cách nói hoán dụ, vừa trang trọng vừa giàu cảm xúc, gợi nhắc đến cuộc đời 79 năm của Bác – một cuộc đời giản dị mà vĩ đại, hi sinh trọn vẹn cho dân tộc. Mỗi con người vào lăng như một cánh hoa nhỏ, góp lại thành tràng hoa lớn của lòng dân, của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Về nghệ thuật, đoạn thơ thể hiện rõ phong cách thơ Viễn Phương: giọng điệu trang nghiêm, tha thiết; ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi; hình ảnh mang tính biểu tượng cao. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ được sử dụng tinh tế, góp phần làm nổi bật cảm xúc và tư tưởng của bài thơ. Đoạn thơ không cầu kỳ trong cách diễn đạt nhưng lại có sức lay động mạnh mẽ bởi sự chân thành và chiều sâu cảm xúc.

Có thể nói, đoạn thơ mở đầu Viếng lăng Bác là lời tri ân xúc động của người con miền Nam nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua những hình ảnh giàu ý nghĩa và cảm xúc chân thành, Viễn Phương đã khắc họa thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại mà gần gũi, bất tử trong lòng nhân dân. Đọc đoạn thơ, mỗi chúng ta không chỉ cảm nhận được niềm xúc động thiêng liêng mà còn tự nhắc nhở bản thân phải sống, học tập và cống hiến xứng đáng với những hi sinh to lớn của Bác và các thế hệ cha anh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xem bài thơ: VIẾNG LĂNG BÁC (Viễn Phương)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang