Trong văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học trung đại, thế thơ thất ngôn bát cú Đường luật chiếm một vị trí quan trọng. Các nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có những bài thơ hay viết theo thể thơ này.
I. Xuất xứ của thể thơ
– Thể thơ thất ngôn bát cú xuất hiện trong thi ca cổ của Trung Hoa, đến thời nhà Đường thì hoàn chỉnh về mặt quy luật gieo vần, quy luật Bằng – Trắc và phát triển đến đỉnh cao nên thường gọi là thất ngôn bát cú Đường luật
II. Đặc điểm hình thức và luật của Thất ngôn bát cú Đường luật
Số câu, số chữ
– Mỗi bài thơ có tám câu (bát cú), mỗi câu bảy chữ (thất ngôn).
Bố cục
– Bài thơ có bố cục gồm bốn phần: đề – thực – luận – kết.
- Phần đề (câu 1+2): Giới thiệu khái quát chủ đề của bài thơ, gợi ra hoàn cảnh, không gian, thời gian hoặc cảm hứng sáng tác. Hai câu đề có vai trò mở đầu, định hướng cảm xúc và tư tưởng cho toàn bài.
- Phần thực (câu 3+4): Triển khai, làm rõ chủ đề đã nêu ở phần đề bằng cách miêu tả sự vật, hiện tượng, cảnh vật hoặc con người một cách cụ thể, chân thực. Hai câu thực thường sử dụng phép đối nhằm tăng tính cân xứng, hài hòa và giá trị biểu đạt.
- Phần luận (câu 5+6): Từ những hình ảnh, sự việc đã miêu tả, tác giả bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, triết lí hoặc cảm xúc sâu sắc của mình. Đây là phần đào sâu ý nghĩa, thể hiện rõ tư tưởng và chiều sâu nội tâm của nhà thơ; thường cũng được viết theo luật đối chỉnh.
- Phần kết (câu 7+8): Khép lại bài thơ, bộc lộ cảm xúc, tâm trạng hoặc đưa ra lời tổng kết, dư âm suy ngẫm. Hai câu kết có tác dụng cô đọng ý nghĩa, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
→ Với cấu trúc chặt chẽ theo bốn phần đề – thực – luận – kết, bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tạo điều kiện để tác giả bộc lộ trọn vẹn nguồn cảm hứng sáng tác, triển khai mạch cảm xúc một cách logic mà vẫn sâu lắng, mãnh liệt, từ đó viết nên những vần thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật, trở thành những tác phẩm bất hủ của văn học dân tộc.
Luật
– Luật thơ: là cách sắp đặt tiếng bằng (B), tiếng trắc (T) trong các câu của một bài thơ.
– Luật bằng – trắc của thơ thất ngôn bát cú luật Đường thường được tóm tắt bằng câu:“nhất – tam – ngũ bất luận; nhị – tứ – lục phân minh”
- Tiếng 2 – 4 – 6: vị trí luật định (bắt buộc)
- Tiếng 1 – 3 – 5 – 7: vị trí linh hoạt
Tức là các tiếng (âm tiết) thứ 1, thứ 3, thứ 5 trong câu không cần sắp xếp theo đúng luật bằng trắc; còn các tiếng thứ 2, thứ 4, thứ 6 trong câu cần tuân theo luật bằng/ trắc rõ ràng theo nguyên tắc:
- Nếu tiếng thứ 2 của câu một là tiếng thanh bằng (thanh ngang hoặc thanh huyền) thì bài thơ làm theo luật bằng.
- Nếu tiếng thứ 2 của câu một là tiếng thanh trắc (các thanh sắc, hỏi, ngã, nặng) thì bài thơ làm theo luật trắc.
Vần
– Bài thơ Đường luật gieo vần ở tiếng cuối câu 1 – 2 – 4 – 6 – 8 và là vần bằng.
– Vần vừa tạo sự liên kết ý nghĩa vừa có tác dụng tạo nén tính nhạc cho thơ.
Niêm
– Niêm: có nghĩa là sự giống nhau về Bằng – Trắc theo nguyên tắc: “Nhất, tam, ngủ bất luận; Nhị, tứ, lục phân minh”.
– Luật niêm trong bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật:
- câu 1 niêm với câu 8
- câu 2 niêm với câu 3
- câu 4 niêm với câu 5
- câu 6 niêm với câu 7.
Nhịp
– Thông thường, thơ thất ngôn bát cú Đường luật ngắt nhịp 3/4 hoặc 4/3, đôi khi ngắt nhịp theo 2/2/3 hoặc 3/2/2 tùy theo mỗi bài.
III. Ưu điểm và hạn chế của thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật
– Ưu điểm: thơ thất ngôn bát cú Đường luật ngắn gọn; hàm súc, cô đọng; giàu nhạc điệu, lời ít, ý nhiều.
– Hạn chế: khá gò bó, đòi hỏi niêm, luật chặt chẽ nên không dễ làm.
– Vào thời kỳ hưng thịnh của văn học chữ Hán, thể thơ này được dùng rất thường xuyên, bởi quy luật nghiêm ngặt đã giúp bài thơ trong cứng có mềm, khi thì sừng sững, vững chãi như núi, nhưng cũng uyển chuyển như suối sông trên nguồn.
– Các quy luật chặt chẽ của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật như một lời giáo huấn răn đe, thể hiện rõ tính âm dương trong triết lý Trung Hoa cổ đại: bản chất vạn vật muốn êm ấm, thì phải luôn xoay quanh quan hệ thuận hòa giữa Thiên (trời) Địa (Đất) và Nhân (con người).
– Có những nhà thơ với nguồn cảm hứng mênh mông vô tận đã vượt lên trên sự nghiêm ngặt của thể thơ phá vỡ cấu trúc vần, đối để thể hiện tư tưởng tình cảm của mình.
IV. Một số bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tiêu biểu
- Qua đèo ngang – Bà huyện Thanh Quan
- Chiều hôm nhớ nhà – Bà huyện Thanh Quan
- Thu vịnh – Nguyễn Khuyến
- Thu điếu – Nguyễn Khuyến
- Bạn đến chơi nhà – Nguyễn Khuyến
- Thương vợ – Trần Tế Xương
- Tự tình – Hồ Xuân Hương
- Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác – Phan Bội Châu










